![]() |
Trợ cấp thất nghiệp là nguồn hỗ trợ quan trọng giúp người lao động ổn định cuộc sống trong thời gian mất việc, đồng thời tạo điều kiện học nghề, tìm kiếm việc làm và sớm quay trở lại thị trường lao động. Tuy nhiên, chính sách này cũng đứng trước nguy cơ bị lợi dụng khi người hưởng đã có việc làm nhưng không thông báo để tiếp tục nhận trợ cấp.
Hành vi này có thể xuất phát từ tâm lý cho rằng bảo hiểm thất nghiệp là khoản tiền người lao động đã đóng góp nên có quyền nhận đủ số tháng được giải quyết hưởng. Cách hiểu đó không đúng với bản chất của chính sách.
Bảo hiểm thất nghiệp được vận hành theo nguyên tắc chia sẻ rủi ro, không phải tài khoản tiết kiệm cá nhân để người tham gia có thể rút tiền theo ý muốn. Quyền hưởng trợ cấp chỉ phát sinh và duy trì khi người lao động đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp luật quy định.
Vì vậy, khi đã có việc làm thuộc trường hợp phải chấm dứt hưởng, người lao động có nghĩa vụ thông báo với cơ quan có thẩm quyền. Việc cố tình che giấu tình trạng việc làm không chỉ dẫn đến khoản trợ cấp được chi trả sai đối tượng mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi bảo hiểm trong tương lai.
Một trường hợp có thể hình dung: người lao động được giải quyết hưởng sáu tháng trợ cấp thất nghiệp với mức 5 triệu đồng mỗi tháng. Sau hai tháng, người này tìm được việc làm mới thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng không thông báo, tiếp tục nhận thêm hai tháng trợ cấp.
Khoản tiền 10 triệu đồng nhận thêm không đúng điều kiện có thể phải hoàn trả. Người lao động còn có nguy cơ bị xử phạt hành chính và không được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng theo quy định.
Đáng chú ý, phần thời gian đóng không được bảo lưu có thể gắn với quyền lợi tích lũy qua nhiều năm làm việc, chứ không chỉ tương ứng với khoản tiền trợ cấp đã nhận sai.
Điểm đáng chú ý của Luật Việc làm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, là quy định rõ hơn trách nhiệm thông báo và hậu quả đối với quyền bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Theo Điều 41, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng khi có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Tuy nhiên, việc sớm tìm được việc làm không đồng nghĩa với mất toàn bộ quyền lợi đã tích lũy. Pháp luật cho phép người lao động thuộc trường hợp chấm dứt hưởng do có việc làm được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng, làm căn cứ tính trợ cấp cho lần thất nghiệp tiếp theo.
Cơ chế này khuyến khích người lao động sớm trở lại thị trường lao động thay vì cố kéo dài thời gian hưởng trợ cấp.
Vấn đề nằm ở nghĩa vụ thông báo. Khoản 5 Điều 41 Luật Việc làm 2025 quy định, nếu người lao động không thông báo tình trạng việc làm theo quy định thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng không được bảo lưu.
Có thể thấy rõ sự khác biệt qua hai tình huống. Cùng được giải quyết hưởng sáu tháng trợ cấp, hai người lao động đều tìm được việc làm sau hai tháng. Người thứ nhất thông báo đúng thời hạn nên được xem xét bảo lưu thời gian đóng tương ứng với phần trợ cấp chưa hưởng. Người thứ hai cố tình không khai báo để tiếp tục nhận tiền có thể vừa phải hoàn trả khoản hưởng sai, vừa không được bảo lưu phần thời gian đóng đó.
Hệ quả này đặc biệt đáng lưu ý với người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhiều năm. Bởi thời gian đóng chưa hưởng là căn cứ quan trọng để xác định quyền lợi khi tiếp tục mất việc trong tương lai.
Nghị định 374/2025/NĐ-CP tiếp tục hướng dẫn việc chấm dứt hưởng và bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, đặt ra yêu cầu người lao động phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thông báo khi thuộc trường hợp chấm dứt hưởng.
Như vậy, quy định mới không nhằm hạn chế quyền lợi của người sớm tìm được việc làm mà bảo vệ những người tuân thủ pháp luật, đồng thời ngăn chặn việc lợi dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Bên cạnh việc không được bảo lưu thời gian đóng, người lao động cố tình hưởng trợ cấp sai quy định còn có thể chịu chế tài hành chính.
Theo Điều 40 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, hành vi kê khai không đúng sự thật, làm sai lệch thông tin liên quan đến việc hưởng bảo hiểm thất nghiệp hoặc không thông báo khi đã có việc làm thuộc trường hợp phải thông báo có thể bị phạt từ 1 triệu đến 2 triệu đồng.
Ngoài tiền phạt, người vi phạm còn bị buộc nộp lại cho cơ quan bảo hiểm xã hội số tiền trợ cấp đã nhận do hành vi vi phạm.
![]() |
Luật Việc làm 2025 cũng quy định trường hợp người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp thì bị chấm dứt hưởng.
Những quy định này cho thấy việc không khai báo tình trạng việc làm không đơn thuần là thiếu sót trong thủ tục hành chính, nhất là khi có căn cứ xác định người lao động cố tình che giấu thông tin để nhận trợ cấp.
Rủi ro pháp lý còn có thể mở rộng sang doanh nghiệp nếu người sử dụng lao động tiếp tay cho hành vi gian lận, chẳng hạn thỏa thuận không ký hợp đồng lao động đúng quy định, không thực hiện nghĩa vụ tham gia bảo hiểm bắt buộc hoặc làm sai lệch hồ sơ để người lao động tiếp tục hưởng trợ cấp.
Đối với doanh nghiệp, việc quản lý hợp đồng lao động, khai báo bảo hiểm và thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm đầy đủ, đúng thời điểm không chỉ bảo đảm quyền lợi người lao động mà còn hạn chế nguy cơ phát sinh vi phạm.
Ở góc độ quản lý, việc kết nối dữ liệu về hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp cũng có ý nghĩa quan trọng. Khi thông tin về việc làm và quá trình tham gia bảo hiểm được cập nhật, đối chiếu kịp thời, cơ quan chức năng có thêm điều kiện phát hiện những trường hợp đã quay lại làm việc nhưng vẫn tiếp tục nhận trợ cấp.
Bảo hiểm thất nghiệp được hình thành trên cơ sở đóng góp và chia sẻ rủi ro, nhằm hỗ trợ những người thực sự mất việc. Vì vậy, việc kiểm soát các khoản chi sai không chỉ để thu hồi tiền cho quỹ mà còn bảo đảm sự công bằng giữa những người tham gia.
Với người lao động, thông báo kịp thời khi có việc làm chính là cách bảo vệ quyền lợi của mình. Bởi khoản trợ cấp nhận thêm không đúng điều kiện có thể phải hoàn trả, trong khi thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp không được bảo lưu có thể là quyền lợi không dễ bù đắp trong tương lai.