![]() |
Khi quan hệ lao động chấm dứt, việc giải quyết thủ tục nghỉ việc, xác nhận quá trình đóng bảo hiểm và cung cấp hồ sơ liên quan có thể quyết định người lao động có kịp tiếp cận chế độ trợ cấp thất nghiệp hay không.
Một bản án phúc thẩm tại Quảng Ninh năm 2021 là minh chứng đáng chú ý. Dù doanh nghiệp không nợ tiền bảo hiểm, Tòa án vẫn buộc đơn vị này bồi thường hơn 51 triệu đồng do chậm giải quyết thủ tục chấm dứt hợp đồng, khiến người lao động không thể thực hiện quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp đúng thời hạn.
Đặt trong bối cảnh Luật Việc làm 2025 và Nghị định 374/2025/NĐ-CP cùng có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, vụ án cho thấy những rủi ro pháp lý doanh nghiệp cần nhận diện trong quản trị lao động.
Theo Bản án số 02/2021/LĐ-PT ngày 9/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, tranh chấp phát sinh giữa ông Nguyễn Đức H. và Công ty TNHH Một thành viên đóng tàu H. liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng lao động, trợ cấp thất nghiệp và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Ông H. có thời gian dài làm việc tại doanh nghiệp. Tháng 8/2020, do hoàn cảnh gia đình, ông làm đơn xin nghỉ việc từ ngày 1/10/2020. Tuy nhiên, công ty không đồng ý với lý do đang gặp khó khăn về sản xuất, kinh doanh và lo ngại việc giải quyết chế độ nghỉ việc có thể tạo tiền lệ đối với những lao động khác.
Sau đó, người lao động tiếp tục thông báo chấm dứt hợp đồng từ ngày 1/11/2020, nhưng doanh nghiệp vẫn chưa giải quyết thủ tục theo yêu cầu.
Đáng chú ý, theo tài liệu được viện dẫn trong bản án, doanh nghiệp không nợ bảo hiểm đối với ông H. Người lao động có thời gian tham gia BHTN từ tháng 1/2009 đến tháng 4/2021, với mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm là 9.525.600 đồng/tháng.
Như vậy, tranh chấp không xuất phát từ hành vi trốn đóng hoặc nợ đóng bảo hiểm, mà từ việc chậm hoàn tất thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động.
Tại cấp sơ thẩm, Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu của người lao động, buộc doanh nghiệp giải quyết thủ tục nghỉ việc và thanh toán trợ cấp thôi việc, nhưng không chấp nhận yêu cầu liên quan đến khoản trợ cấp thất nghiệp bị mất.
Ông H. kháng cáo.
Xem xét vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm xác định việc ông H. đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 1/11/2020 phù hợp quy định pháp luật áp dụng tại thời điểm đó. Tuy nhiên, đến ngày 26/7/2021, doanh nghiệp mới ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng.
Sự chậm trễ kéo dài gần chín tháng khiến người lao động không thể hoàn thiện hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn quy định.
Tài liệu từ Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Quảng Ninh cũng xác nhận người lao động đã quá hạn nộp hồ sơ hưởng chế độ.
Từ những căn cứ này, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định sửa bản án sơ thẩm, buộc doanh nghiệp bồi thường 51.438.240 đồng, tương ứng khoản trợ cấp thất nghiệp mà người lao động bị thiệt hại theo cách tính được Tòa án chấp nhận.
Đây không phải khoản tiền trợ cấp thất nghiệp do doanh nghiệp trực tiếp chi trả thay Quỹ BHTN theo cơ chế thông thường. Đó là khoản bồi thường thiệt hại được xác định trong một vụ tranh chấp lao động cụ thể, trên cơ sở hành vi vi phạm nghĩa vụ và hậu quả đối với người lao động.
Bản án cho thấy mộtpháp lý quan trọng: Doanh nghiệp có thể không nợ bảo hiểm nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm nếu việc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Từ ngày 1/1/2026, Luật Việc làm số 74/2025/QH15 chính thức có hiệu lực, thay thế Luật Việc làm 2013. Cùng thời điểm, Nghị định số 374/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về BHTN cũng được áp dụng.
Điểm đáng chú ý là hệ thống pháp luật mới tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu giải quyết chế độ BHTN kịp thời, đầy đủ, đồng thời quy định rõ hơn trách nhiệm của người sử dụng lao động.
![]() |
Theo Điều 33 Luật Việc làm 2025, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đủ BHTN cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc để kịp thời giải quyết chế độ.
Đặc biệt, trường hợp doanh nghiệp không đóng đủ BHTN thì phải trả khoản tiền tương ứng với các chế độ BHTN mà người lao động được hưởng theo quy định pháp luật.
Quy định này cần được phân biệt với tình huống trong bản án Quảng Ninh. Một bên là trách nhiệm được luật quy định trực tiếp khi doanh nghiệp không đóng đủ BHTN; bên còn lại là trách nhiệm bồi thường thiệt hại được Tòa án xác định do doanh nghiệp chậm thực hiện thủ tục chấm dứt hợp đồng.
Hai tình huống có căn cứ pháp lý khác nhau, nhưng cùng cho thấy doanh nghiệp không thể chỉ quan tâm đến số tiền đã đóng mà bỏ qua các nghĩa vụ liên quan đến việc bảo đảm quyền hưởng chế độ.
Một vấn đề khác doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý là thời hạn đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Theo Điều 38 Luật Việc làm 2025, người lao động phải đáp ứng các điều kiện luật định, trong đó có việc chấm dứt hợp đồng hợp pháp, đủ thời gian đóng BHTN, nộp hồ sơ đúng thời hạn và các điều kiện liên quan đến tình trạng việc làm.
Thời hạn nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp tục là ba tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc. Trình tự, hồ sơ và phương thức thực hiện được hướng dẫn tại Nghị định 374/2025/NĐ-CP.
Đây là khoảng thời gian có ý nghĩa quyết định. Nếu doanh nghiệp chậm cung cấp giấy tờ xác nhận việc chấm dứt hợp đồng hoặc chậm hoàn tất những thủ tục thuộc trách nhiệm của mình, người lao động có thể gặp khó khăn khi thực hiện quyền hưởng chế độ.
Không phải mọi trường hợp chậm thủ tục đều mặc nhiên làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường. Để xác định trách nhiệm, cần xem xét hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế, mối quan hệ nhân quả và các căn cứ pháp luật tương ứng.
Tuy nhiên, bản án tại Quảng Ninh cho thấy khi những yếu tố này được chứng minh, rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp hoàn toàn có thể phát sinh.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nơi công tác nhân sự và bảo hiểm đôi khi được giao cho một bộ phận kiêm nhiệm, nguy cơ không chỉ nằm ở việc tính sai mức đóng hay chậm chuyển tiền bảo hiểm. Một hồ sơ nghỉ việc bị xử lý kéo dài, một quyết định chấm dứt hợp đồng không được ban hành đúng thời điểm hoặc dữ liệu bảo hiểm chưa được đối chiếu đầy đủ cũng có thể trở thành nguồn gốc tranh chấp.
Trong bối cảnh các thủ tục bảo hiểm đang được số hóa, doanh nghiệp cần thiết lập quy trình kiểm soát rõ ràng từ khi tiếp nhận thông báo nghỉ việc đến khi hoàn tất nghĩa vụ thanh toán, xác nhận quá trình đóng bảo hiểm và bàn giao giấy tờ cho người lao động.
Việc ứng dụng phần mềm quản lý nhân sự, kết nối dữ liệu tiền lương và bảo hiểm, theo dõi thời hạn xử lý hồ sơ có thể giúp giảm sai sót. Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi trách nhiệm của từng bộ phận được xác định cụ thể.
Về phía người lao động, cần chủ động kiểm tra quá trình tham gia BHTN, lưu giữ thông báo nghỉ việc và các tài liệu chứng minh thời điểm chấm dứt hợp đồng. Nếu doanh nghiệp chậm giải quyết thủ tục, cần sớm liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc tổ chức dịch vụ việc làm công để được hướng dẫn, tránh bỏ lỡ thời hạn nộp hồ sơ.
Bản án tại Quảng Ninh được xét xử từ năm 2021, nhưng vấn đề đặt ra vẫn có giá trị trong thực tiễn quản trị lao động hiện nay. Bởi một khoản bảo hiểm đã đóng đủ chưa chắc đã bảo đảm quyền lợi được thực hiện đúng hạn nếu các thủ tục liên quan không được giải quyết kịp thời.
Với doanh nghiệp, chi phí tuân thủ pháp luật không chỉ nằm ở khoản đóng BHTN hằng tháng, mà còn ở trách nhiệm bảo đảm người lao động có thể tiếp cận chính sách an sinh khi mất việc. Chậm một thủ tục có thể khiến người lao động mất quyền lợi, và doanh nghiệp phải trả giá bằng một khoản bồi thường lớn hơn nhiều so với chi phí thực hiện đúng quy trình ngay từ đầu.