![]() |
Biến đổi khí hậu đang trở thành một trong những yếu tố gây sức ép trực tiếp lên thị trường lao động Việt Nam. Những đợt bão lũ, hạn hán, xâm nhập mặn hay sạt lở không chỉ gây thiệt hại về cơ sở vật chất mà còn làm gián đoạn hoạt động sản xuất, thu hẹp cơ hội việc làm và đẩy người lao động vào tình trạng thu nhập bấp bênh.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, hạn hán và xâm nhập mặn có thể ảnh hưởng đến vùng nguyên liệu nông, thủy sản, kéo theo những khó khăn đối với doanh nghiệp chế biến, vận tải và xuất khẩu. Tại các tỉnh miền Trung và miền núi phía Bắc, bão lũ, sạt lở có thể khiến nhà xưởng ngừng hoạt động, hạ tầng giao thông bị chia cắt, chuỗi cung ứng nguyên liệu và hàng hóa gián đoạn.
Điểm đáng lo ngại là tác động của thiên tai thường lan truyền theo chuỗi. Khi vùng nguyên liệu bị thiệt hại, doanh nghiệp chế biến có thể thiếu đầu vào, buộc phải giảm công suất hoặc tạm ngừng sản xuất. Hoạt động logistics, thương mại và xuất khẩu vì thế cũng chịu ảnh hưởng, kéo theo nguy cơ giảm giờ làm, ngừng việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động.
Với người lao động, đây có thể là cú sốc kép. Họ vừa mất nguồn thu nhập từ việc làm tại doanh nghiệp, vừa chứng kiến sinh kế gia đình bị tổn thương khi đất canh tác, ao nuôi hoặc các hoạt động kinh tế truyền thống không còn khả năng duy trì như trước.
Khác với những biến động lao động thông thường, mất việc do thiên tai thường xảy ra trên diện rộng, trong khi khả năng tìm kiếm việc làm thay thế tại địa phương cũng suy giảm. Người lao động vì thế có thể phải chuyển nghề, di chuyển đến địa bàn khác hoặc chấp nhận công việc có thu nhập thấp hơn.
Thực tế này đặt ra yêu cầu đối với chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN): Không chỉ bù đắp một phần thu nhập sau khi người lao động mất việc, mà còn phải góp phần ngăn ngừa thất nghiệp, duy trì quan hệ lao động và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp.
Luật Việc làm năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đã tạo cơ sở pháp lý để chính sách BHTN tham gia sâu hơn vào quá trình ứng phó với các cú sốc kinh tế, xã hội và thiên tai.
Theo khoản 2 Điều 30, trong trường hợp khủng hoảng, suy thoái kinh tế, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm, căn cứ tình hình thực tế và kết dư Quỹ BHTN, Chính phủ quy định việc giảm mức đóng, hỗ trợ bằng tiền hoặc các hình thức hỗ trợ khác. Điều 45 đồng thời xác định Quỹ BHTN được sử dụng để chi trả các khoản hỗ trợ theo quy định.
Đây là cơ sở quan trọng để mở rộng vai trò của Quỹ BHTN từ hỗ trợ khi thất nghiệp xảy ra sang góp phần giảm thiểu tác động của những biến cố có nguy cơ gây mất việc trên diện rộng.
Đối với doanh nghiệp, cơ chế này có thể tạo dư địa giảm áp lực tài chính trong giai đoạn sản xuất đình trệ. Với người lao động, các biện pháp hỗ trợ kịp thời có thể giúp hạn chế đứt gãy thu nhập, duy trì khả năng tham gia thị trường lao động.
Đáng chú ý, Điều 42 Luật Việc làm quy định chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề nhằm duy trì việc làm. Doanh nghiệp bị ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến việc làm của nhiều lao động do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm có thể tiếp cận chính sách khi đáp ứng các điều kiện theo quy định, trong đó có thời gian đóng BHTN và phương án đào tạo, duy trì việc làm.
Cơ chế này đặc biệt có ý nghĩa với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn có nguồn lực dự phòng hạn chế, dễ chịu tổn thương khi hoạt động sản xuất bị gián đoạn kéo dài.
Thay vì chỉ giải quyết chế độ cho người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng, chính sách hỗ trợ đào tạo có thể giúp doanh nghiệp tận dụng thời gian giảm đơn hàng hoặc tạm ngừng một phần hoạt động để nâng cao kỹ năng cho nhân sự, chuẩn bị cho giai đoạn khôi phục sản xuất.
Ở góc độ thị trường lao động, giữ được quan hệ lao động cũng đồng nghĩa với việc hạn chế chi phí tuyển dụng lại, đào tạo lại và nguy cơ thiếu hụt nhân lực khi doanh nghiệp phục hồi.
Bên cạnh đó, Nghị định 374/2025/NĐ-CP quy định một số cơ chế nhằm bảo đảm quyền lợi BHTN trong các tình huống bất khả kháng. Người lao động gặp trở ngại do hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, địch họa hoặc dịch bệnh có thể thực hiện thủ tục thông qua hình thức ủy quyền hoặc gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính theo điều kiện được quy định.
Trường hợp không thể thực hiện nghĩa vụ thông báo tìm kiếm việc làm do các sự kiện trên, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp cũng có cơ chế để được xem xét điều chỉnh ngày thông báo theo thẩm quyền.
Một điểm đáng chú ý khác là quy định về xác định tình trạng đang đóng BHTN đối với người lao động nghỉ việc tại đơn vị không còn khả năng đóng bảo hiểm theo quy định pháp luật. Cơ chế này góp phần hạn chế nguy cơ người lao động bị ảnh hưởng quyền lợi chỉ vì doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn nghiêm trọng.
![]() |
Tuy nhiên, khả năng phát huy hiệu quả của các chính sách còn phụ thuộc vào việc hướng dẫn, tổ chức thực hiện và mức độ tiếp cận thực tế của người lao động, doanh nghiệp.
Đặc biệt, cơ chế hỗ trợ trong tình huống thiên tai theo khoản 2 Điều 30 cần được cụ thể hóa thành những phương án có thể triển khai nhanh khi xảy ra biến cố. Các tiêu chí về mức độ thiệt hại, phạm vi địa bàn, đối tượng thụ hưởng, hình thức hỗ trợ và thời hạn áp dụng cần được xác định rõ, tránh tình trạng chính sách có cơ sở pháp lý nhưng chậm đi vào thực tiễn.
Cùng với đó, việc kết nối dữ liệu BHTN, thông tin việc làm và tình hình sản xuất của doanh nghiệp có thể hỗ trợ cơ quan quản lý nhận diện sớm những khu vực, ngành nghề có nguy cơ mất việc gia tăng sau thiên tai. Đây cũng là cơ sở để triển khai tư vấn việc làm, đào tạo lại và kết nối tuyển dụng phù hợp với nhu cầu phục hồi của từng địa phương.
Dù vậy, Quỹ BHTN không thể thay thế các nguồn lực cứu trợ thiên tai, hỗ trợ phục hồi sản xuất hoặc chính sách an sinh dành cho lao động phi chính thức. Phạm vi hỗ trợ của quỹ cần gắn với đối tượng tham gia, điều kiện hưởng và khả năng cân đối tài chính, đồng thời phối hợp với các chính sách khác để tránh khoảng trống bảo vệ.
Trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng tác động sâu đến hoạt động kinh tế, hiệu quả của BHTN không nên chỉ được nhìn nhận qua số người nhận trợ cấp hay tổng kinh phí chi trả. Một thước đo quan trọng hơn là khả năng giúp doanh nghiệp giữ được lao động, người mất việc sớm tìm được sinh kế mới và thị trường lao động phục hồi sau những cú sốc.
Đó cũng là hướng chuyển dịch cần thiết của chính sách BHTN: từ giải quyết hậu quả thất nghiệp sang chủ động bảo vệ việc làm, nâng cao năng lực thích ứng và củng cố sức chống chịu của nền kinh tế.