Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt ra định hướng lớn về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và phát triển các nguồn năng lượng sạch.
Tuy nhiên, để định hướng này đi vào đời sống sản xuất, yếu tố quyết định vẫn là hiệu quả kinh tế mà doanh nghiệp có thể nhìn thấy, đo lường và duy trì trong dài hạn. Thực tế tại Tuyên Quang cho thấy, quá trình chuyển đổi đang bắt đầu từ chính những khâu gần nhất với doanh nghiệp: thiết bị, dây chuyền, thời gian vận hành và nguồn điện sử dụng tại chỗ.
![]() |
| Nhiều doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà nhằm tiết kiệm chi phí tiền điện. (Ảnh: CTĐL Tuyên Quang) |
Tại Công ty may LGG, phường Bình Thuận, việc sử dụng điện tiết kiệm được xác định là một trong những giải pháp giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Là doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất khẩu với sản lượng lớn, công ty đã từng bước loại bỏ thiết bị lạc hậu, thay thế bằng thiết bị hiện đại có dán nhãn tiết kiệm năng lượng; tận dụng ánh sáng, thông gió tự nhiên và tổ chức lại thời gian sử dụng điều hòa.
Điều hòa nhiệt độ được vận hành ở mức 27–28 độ C, bật sau khi người lao động vào làm việc khoảng 30 phút và tắt trước giờ tan ca 30 phút. Máy móc được bảo dưỡng định kỳ, quy trình sản xuất được cải tiến nhằm hạn chế thất thoát điện năng.
Nhìn riêng lẻ, mỗi biện pháp có thể chỉ giúp giảm một phần nhỏ lượng điện tiêu thụ. Nhưng khi được thực hiện đồng bộ và duy trì thường xuyên, hiệu quả cộng dồn sẽ tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm.
Đây cũng là sự thay đổi đáng chú ý trong tư duy sử dụng năng lượng. Doanh nghiệp không còn chờ đến khi nguồn điện căng thẳng hoặc hóa đơn tăng cao mới thực hiện tiết kiệm, mà bắt đầu kiểm soát năng lượng như một yếu tố của quản trị sản xuất.
Với những ngành sử dụng nhiều lao động và vận hành dây chuyền liên tục, dư địa tiết kiệm không chỉ nằm ở việc tắt bớt thiết bị. Giá trị lớn hơn đến từ thay thế công nghệ, bố trí lại ca sản xuất, kiểm soát thời gian chạy máy và giảm điện năng tiêu hao trên mỗi sản phẩm.
Toàn tỉnh Tuyên Quang hiện có trên 600 hệ thống điện mặt trời mái nhà, tổng công suất gần 22.000 kWp. Con số này cho thấy nguồn điện phân tán đang dần hình thành tại các hộ gia đình, cơ sở sản xuất và doanh nghiệp.
Không chiếm thêm diện tích đất, có thể tận dụng mái nhà xưởng và phát điện vào ban ngày – thời điểm nhiều cơ sở sản xuất có nhu cầu sử dụng điện cao – điện mặt trời mái nhà phù hợp với mô hình tự sản xuất, tự tiêu thụ.
Đối với doanh nghiệp, giá trị của hệ thống không chỉ nằm ở số tiền điện giảm được mỗi tháng. Nguồn điện tại chỗ còn giúp doanh nghiệp chủ động hơn trước biến động của phụ tải, giảm lượng điện mua từ lưới vào một số thời điểm và tạo cơ sở để từng bước giảm phát thải trong quá trình sản xuất.
Công ty TNHH MTV Bao bì DHT tại Cụm công nghiệp Phúc Ứng là một trong những đơn vị đã lắp đặt điện mặt trời, qua đó bổ sung nguồn năng lượng phục vụ hoạt động sản xuất.
Hiệu quả kinh tế cũng được thể hiện ở quy mô hộ gia đình. Ông Nguyễn Minh Hạnh, tổ dân phố 8, phường Minh Xuân cho biết, hệ thống điện mặt trời mái nhà kết hợp pin lưu trữ đã giúp gia đình tiết kiệm khoảng 2 triệu đồng tiền điện mỗi tháng. Vào mùa hè, dù nhu cầu làm mát tăng cao, lượng điện phải mua từ lưới quốc gia vẫn giảm đáng kể.
Trường hợp này cho thấy pin lưu trữ có thể gia tăng khả năng chủ động sử dụng nguồn điện mặt trời. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư của mỗi hệ thống còn phụ thuộc vào quy mô tiêu thụ, thời điểm sử dụng điện, công suất lắp đặt và phương án vận hành. Đây là những yếu tố cần được tính toán kỹ để tránh đầu tư theo phong trào.
![]() |
| Công ty TNHH MTV Bao bì DHT, cụm công nghiệp Phúc Ứng lắp đặt điện năng lượng mặt trời, giúp tiết kiệm năng lượng. (Ảnh: Quốc Việt) |
Cùng với phát triển nguồn điện tại chỗ, chương trình điều chỉnh phụ tải điện đang mở ra cách tiếp cận khác đối với bài toán an ninh năng lượng. Thay vì chỉ tập trung bổ sung nguồn cung, ngành Điện và doanh nghiệp cùng tổ chức lại nhu cầu sử dụng điện theo thời gian.
Tại Tuyên Quang, 100% khách hàng sản xuất lớn có sản lượng tiêu thụ từ 1 triệu kWh mỗi năm trở lên đã ký thỏa thuận dịch chuyển phụ tải khỏi khung giờ cao điểm của hệ thống điện miền Bắc khi có yêu cầu.
Kết quả này phản ánh mức độ đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp, nhưng giá trị sâu hơn nằm ở khả năng hình thành một hệ thống sản xuất linh hoạt. Khi doanh nghiệp có thể chủ động bố trí ca làm việc, dịch chuyển một số công đoạn tiêu thụ nhiều điện hoặc tận dụng nguồn điện tự sản xuất, áp lực lên hệ thống điện trong giờ cao điểm sẽ được giảm bớt.
Theo ông Trần Văn Bằng, Giám đốc Công ty Điện lực Tuyên Quang, nhiều doanh nghiệp không chỉ tham gia chương trình điều chỉnh phụ tải tự nguyện phi thương mại mà còn chủ động đầu tư công nghệ, tối ưu quy trình sản xuất và phát triển nguồn điện tự sản xuất, tự tiêu thụ.
Như vậy, doanh nghiệp đang chuyển từ vị trí người mua điện thụ động sang chủ thể có khả năng quản lý nhu cầu, tham gia hỗ trợ vận hành hệ thống và tự bảo đảm một phần nhu cầu năng lượng của mình.
Theo Kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2026–2030, Tuyên Quang đặt mục tiêu tiết kiệm tối thiểu 8% tổng tiêu thụ năng lượng vào năm 2030.
Mức tiết kiệm được xác định theo từng lĩnh vực: giao thông vận tải ít nhất 5% lượng xăng, dầu tiêu thụ; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tối thiểu 4%; dịch vụ công cộng ít nhất 12%; dân dụng, sinh hoạt và thương mại – dịch vụ từ 3% đến 3,3%. Đối với công nghiệp, mức giảm tiêu hao năng lượng bình quân được đặt ra từ trên 5% đến gần 25%, tùy ngành sản xuất và công nghệ.
Điểm đáng chú ý không chỉ là tỷ lệ 8%, mà là cách chuyển mục tiêu chung thành chỉ tiêu có thể theo dõi tại từng ngành, doanh nghiệp và dây chuyền sản xuất. Nếu chỉ so sánh tổng lượng điện tiêu thụ giữa các năm, kết quả có thể bị ảnh hưởng bởi sự mở rộng quy mô sản xuất. Chất lượng tiết kiệm sẽ được phản ánh rõ hơn qua lượng năng lượng tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm hoặc giá trị tạo ra.
Khi tiết kiệm năng lượng được đo lường minh bạch, doanh nghiệp có thêm căn cứ để đánh giá hiệu quả đầu tư thiết bị, điện mặt trời mái nhà, pin lưu trữ và các giải pháp quản trị. Đây cũng là dữ liệu quan trọng để doanh nghiệp chứng minh quá trình chuyển đổi xanh với khách hàng, đối tác và thị trường.
Từ hơn 600 hệ thống điện mặt trời mái nhà đến việc toàn bộ khách hàng sản xuất lớn tham gia thỏa thuận điều chỉnh phụ tải, Tuyên Quang đã có những nền tảng ban đầu cho quá trình sử dụng năng lượng hiệu quả hơn.
Chặng đường tới mục tiêu tiết kiệm tối thiểu 8% tổng tiêu thụ năng lượng sẽ phụ thuộc vào khả năng biến từng kilowatt giờ tiết kiệm được thành chi phí được cắt giảm, áp lực hệ thống điện được san sẻ và giá trị cạnh tranh được cộng thêm cho sản phẩm. Khi đó, tiết kiệm năng lượng không chỉ là trách nhiệm với hệ thống điện, mà thực sự trở thành một khoản đầu tư cho tương lai của doanh nghiệp.