Không thể để vi phạm trở thành một phép tính kinh tế
Hôm 18/3, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh An Giang đã khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc tàu cá mang số hiệu KG-8286B-TS bị lực lượng chức năng Thái Lan bắt giữ vào ngày 14/3/2026. Quyết định khởi tố về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo Điều 348 Bộ luật Hình sự diễn ra trong bối cảnh tỉnh này đang quyết liệt triển khai Công điện số 34/CĐ-TTg ngày 25/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 11/CT-UBND ngày 10/4/2026 của UBND tỉnh An Giang về khắc phục khẩn cấp các tồn tại theo khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
![]() |
| Nhiều địa phương tiếp tục đẩy mạnh mạnh tuyên truyền chống khai thác IUU cho ngư dân, ảnh chỉ có tính minh họa, không phản ánh câu chuyện ở An Giang như trong bài . Ảnh: VGP |
An Giang là địa phương có đội ghe tàu đánh bắt thủy sản lớn nhất cả nước và có ngư trường, sản lượng khai thác thủy sản hàng đầu Việt Nam. Theo rà soát của chính quyền tỉnh này, đến giữa năm nay, toàn tỉnh có hơn 10.000 tàu cá đã đăng ký, trong đó, đội tàu khai thác biển chủ lực (chiều dài từ 15m trở lên) có khoảng 3.600 chiếc nhưng toàn tỉnh hiện vẫn còn 327 tàu cá không đủ điều kiện hoạt động khai thác thủy sản.
Lực lượng công an tỉnh khẳng định sẽ tăng cường phối hợp tuần tra, kiểm soát chặt chẽ và xử lý nghiêm khắc những trường hợp cố tình đưa tàu cá không đủ điều kiện ra khơi. Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, các cá nhân, tổ chức cố tình đưa tàu cá, ngư dân đi khai thác trái phép dẫn đến bị nước ngoài bắt giữ, gây ảnh hưởng đến nỗ lực gỡ "thẻ vàng" IUU của quốc gia, sẽ bị xử phạt hành chính lên đến 1 tỷ đồng hoặc xem xét xử lý hình sự. Việc khởi tố vụ án nói trên là một minh chứng tỉnh này thực thi nghiêm túc và cùng cả nước tháo gỡ cảnh báo của EC, Công an tỉnh An Giang đề nghị người dân tuân thủ tuyệt đối quy định về giấy phép, vận hành thiết bị giám sát hành trình (VMS), ghi nhật ký khai thác và tuyệt đối không xâm phạm vùng biển nước ngoài.
Từ quản lý tàu cá đến quản trị chuỗi thủy sản
Đầu năm nay, sau đợt làm việc từ ngày 10 đến 19/3, Đoàn thanh tra IUU của EC không đưa ra điều gì quá mới. Nhưng, 11 vấn đề họ nêu ra lại giống như một bản “soi chiếu” thẳng vào những điểm nghẽn mà Việt Nam đã biết, đã có luật pháp, nhưng chưa xử lý đến nơi đến chốn.
IUU, tức khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định, không còn là câu chuyện kỹ thuật. Từ khi EC rút “thẻ vàng” tháng 10/2017 đến nay, gần 9 năm trôi qua, bài toán vẫn chưa có lời giải trọn vẹn. Trong khi đó, ngành thủy sản mỗi năm mang về khoảng 9-10 tỷ USD, thì cái giá của sự chậm trễ không chỉ nằm ở vài lô hàng bị giữ lại, mà là uy tín của cả chuỗi xuất khẩu.
Nhìn vào 4 nhóm khuyến nghị, có thể thấy EC không “đòi hỏi thêm”, mà họ đang đòi chúng ta làm thật.
Trước hết, chế tài xử phạt, theo thanh tra EC, vẫn chưa đủ đau. Đề xuất của đoàn thanh tra là tước giấy phép, tịch thu tàu, xử phạt ở mức cao nhất cho các vi phạm nghiêm trọng, điều đó cho thấy một thực tế: chi phí vi phạm IUU hiện vẫn thấp hơn lợi ích thu được.
Khi một chuyến đi biển sai phạm nếu không phát hiện, có thể mang lại hàng trăm triệu đồng, thì mức phạt vài chục triệu đồng như lâu nay không đủ sức răn đe. Cơ chế hiện nay vì thế vô tình tạo ra “khoảng lợi nhuận xám” cho một số doanh nghiệp tư nhân chủ ghe tàu. Nếu không nâng “giá” của rủi ro, vi phạm sẽ còn tiếp diễn, bất kể quy định có dày thêm bao nhiêu hay có thêm văn bản giấy tờ.
Thứ hai, quản trị đội ghe tàu khai thác thủy sản trên biển vẫn là điểm yếu chí tử của Việt Nam hiện nay. Cả nước có khoảng 86.000 tàu cá, trong đó gần 30.000 tàu cá đủ chuẩn đánh bắt xa bờ, đã và đang có gắn thiết bị giám sát hành trình (VMS) nhưng việc không hiếm chủ tàu tắt thiết bị, gửi VMS cho tàu khác, hoặc mất tín hiệu có chủ đích nhằm đánh bắt cá trái phép không phải cá biệt.
Yêu cầu kẻ số, đánh dấu tàu kể cả khi neo bờ của đoàn thanh tra nghe có vẻ hình thức, nhưng thực chất là bài toán nhận diện và đồng bộ dữ liệu. Khi không biết chính xác “tàu đang ở đâu”, thì mọi nỗ lực kiểm soát IUU chỉ mang tính ước đoán. Nên cái mà thanh tra IUU đang đòi hỏi chính là dữ liệu quản trị toàn diện đội ghe tàu đánh cá.
Thứ ba, truy xuất nguồn gốc đang là “điểm mù” thực sự. Họ đã khuyến nghị siết chặt kiểm soát từ cảng cá đến nhà máy của doanh nghiệp. Thanh tra IUU đặc biệt quan tâm với nguồn hàng thủy sản nhập khẩu đóng container dùng làm nguyên liệu chế biến của các nhà máy chế biến thủy sản trong nước.
Điều đó cho thấy ít nhiều đang có một nghịch lý: giấy tờ sổ sách nguyên liệu đầu vào của các nhà máy thủy sản có thể sạch, nhưng nguyên liệu thực tế thì chưa chắc. Khi doanh nghiệp mua gom từ nhiều nguồn, trong đó có nguồn không hợp pháp, lẫn trong nguồn nhập khẩu thì hệ thống truy xuất hiện nay khó phát hiện nếu chỉ dựa vào hồ sơ.
Vì vậy, EC yêu cầu kiểm tra trực tiếp tại doanh nghiệp, thay vì chỉ nhìn giấy, tức là chuyển từ “kiểm tra thủ tục” sang “kiểm tra thực chất”.
Thứ tư, thực thi pháp luật còn phân mảnh. Cùng một hành vi, có nơi xử lý rất nghiêm, có nơi lại chậm trễ hoặc nương tay. Dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương chưa đồng bộ, khiến việc theo dõi vi phạm bị đứt đoạn. Khi một tàu vi phạm ở tỉnh này nhưng lại “trắng hồ sơ” ở tỉnh khác, hệ thống coi như mất hiệu lực. EC vì vậy nhấn mạnh yêu cầu thống nhất dữ liệu và giám sát tiến độ xử lý, tức là siết kỷ luật thực thi, không chỉ siết quy định.
Điểm đáng lưu ý là cách tiếp cận của EC đã thay đổi. Họ không còn hỏi “có quy định chưa”, mà hỏi “đã xử lý bao nhiêu vụ, dữ liệu ở đâu, kết quả thế nào”. Đây là logic quản trị theo kết quả, không theo cam kết. Trong khi đó, cách vận hành của ngành nông nghiệp, đánh bắt thủy sản hiện nay ở các địa phương thực chất vẫn thiên về báo cáo, về hoàn thiện văn bản. Khoảng cách giữa “có quy định” và “có hiệu lực” thực sự hay không vì vậy vẫn còn khá xa.
| 11 vấn đề EC nêu ra, nếu bóc tách sẽ cho thấy thực chất yêu cầu của họ xoay quanh trục chính: làm cho hệ thống chống IUU vận hành như một hệ thống thật, chứ không phải một tập hợp quy định, văn bản. |
Các đòi hỏi này đã ít nhiều cho thấy chống IUU phải chuyển từ tư duy “quản lý ngư dân” trên ghe tàu trên biển, sang “quản trị chuỗi cung ứng”, nơi doanh nghiệp cũng phải chịu trách nhiệm ngang bằng chủ ghe tàu; chuyển từ kiểm tra giấy tờ sang kiểm soát dữ liệu thời gian thực, đặc biệt với VMS và truy xuất nguồn gốc.
Nếu không làm được những điều nói trên, rất có khả năng trong tương lai, ngành nông nghiệp - thủy sản cứ sau mỗi đợt thanh tra sẽ là một vòng lặp lại như mọi khi: ghi nhận, khuyến nghị, rồi chờ đợi, và thẻ vàng IUU vẫn cứ treo lơ lửng, ảnh hưởng đến uy tín của thực phẩm Việt trên thị trường thế giới.
Nhưng, một khi EC gỡ bỏ “thẻ vàng”, ngành thủy sản không chỉ khôi phục lợi thế xuất khẩu mà còn chứng minh đã xây dựng được một chuỗi cung ứng minh bạch, có thể truy xuất nguồn gốc, từ tàu cá, ngư dân, nguyên liệu đến nhà máy chế biến, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về khai thác bền vững.