Theo phương án được triển khai, 10 hộ hội viên tại xã Bảo Ái, tỉnh Lào Cai được vay tổng cộng 1 tỷ đồng để thực hiện dự án trồng và chăm sóc cây dược liệu mạch môn cùng 8 hộ tại phường Văn Phú được vay 800 triệu đồng phát triển cây keo. Bình quân mỗi hộ tiếp cận khoảng 100 triệu đồng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 0,5%/tháng, tương đương 6%/năm.
Nếu nhìn đơn thuần về quy mô, 1,8 tỷ đồng chưa phải nguồn lực lớn đối với phát triển nông nghiệp. Số hộ thụ hưởng trực tiếp cũng chỉ dừng ở 18 hộ. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là vốn không được giải ngân riêng lẻ, phân tán mà được đưa vào những dự án có cùng ngành nghề, cùng địa bàn và có tổ chức Hội đứng ra theo dõi.
Cách làm này giúp đồng vốn hình thành một “cụm sản xuất” thay vì chia nhỏ thành những khoản vay riêng biệt. Các hộ có điều kiện trao đổi kinh nghiệm, áp dụng kỹ thuật tương đối đồng đều, cùng nhận diện rủi ro và từng bước tạo ra sản lượng tập trung.
Với mỗi hộ nông dân, khoản vay 100 triệu đồng có thể chưa đủ để đầu tư toàn bộ một chu kỳ sản xuất, nhưng có ý nghĩa thiết thực trong việc mua giống, vật tư, phân bón, thuê nhân công hoặc mở rộng diện tích. Quan trọng hơn, đây là nguồn vốn có thời hạn, lãi suất và trách nhiệm hoàn trả rõ ràng, qua đó tạo động lực để người vay tính toán hiệu quả kinh tế ngay từ khi triển khai mô hình.
![]() |
| Giải ngân vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân cho hội viên xã Bảo Ái (Ảnh: Kim Thoa) |
Giá trị nổi bật tại xã Bảo Ái là hoạt động giải ngân được gắn với việc thành lập Tổ hội Nông dân nghề nghiệp. Đây là bước chuyển đáng chú ý trong phương thức hỗ trợ nông dân.
Trong sản xuất nhỏ lẻ, khó khăn của người dân không chỉ nằm ở thiếu vốn. Một hộ có thể vay được tiền, mua được giống nhưng vẫn đối mặt với nhiều câu hỏi: trồng theo quy trình nào, sản phẩm đạt tiêu chuẩn gì, bán cho ai, giá cả biến động ra sao và xử lý thế nào khi thị trường không thuận lợi?
Tổ hội nghề nghiệp tạo ra không gian để những người cùng sản xuất một loại cây trồng liên kết với nhau. Khi mạch môn được phát triển theo nhóm hộ, khả năng thống nhất giống, quy trình chăm sóc, thời điểm thu hoạch và sơ chế sẽ cao hơn. Đây cũng là cơ sở để hình thành vùng nguyên liệu, xây dựng mã số vùng trồng hoặc kết nối với doanh nghiệp thu mua nếu quy mô và chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu.
Việc thành lập Tổ tự quản về bảo vệ môi trường cùng thời điểm triển khai dự án còn cho thấy một cách tiếp cận rộng hơn. Phát triển sản xuất không tách rời trách nhiệm quản lý chất thải, sử dụng vật tư nông nghiệp và bảo vệ đất, nước tại khu vực canh tác. Với cây dược liệu, yếu tố môi trường và độ an toàn của vùng trồng còn có thể tác động trực tiếp đến chất lượng, giá trị thương mại của sản phẩm.
Như vậy, nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân đang đóng vai trò “vốn mồi” để tạo lập mô hình. Hiệu quả của nó không chỉ được tính bằng số tiền giải ngân mà còn nằm ở khả năng kéo các hộ sản xuất riêng lẻ vào một tổ chức nghề nghiệp có trách nhiệm và mục tiêu chung.
![]() |
| Ông Đỗ Minh Huấn - Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh phát biểu tại chương trình giải ngân. (Ảnh: Kim Thoa) |
Quỹ Hỗ trợ nông dân ký hợp đồng ủy nhiệm với Hội Nông dân xã Bảo Ái và phường Văn Phú để thực hiện một số công việc trong quy trình cho vay. Cơ chế này đặt tổ chức Hội vào vị trí trung gian giữa nguồn vốn và người sử dụng vốn.
Hội không chỉ giới thiệu hội viên đủ điều kiện vay mà còn tham gia tuyên truyền nguyên tắc sử dụng vốn, theo dõi quá trình đầu tư, phối hợp tập huấn kỹ thuật, thu lãi và thu hồi vốn. Đây chính là điểm khác biệt giữa một khoản vay đơn thuần với nguồn vốn hỗ trợ được tổ chức theo dự án.
Do cán bộ Hội hoạt động tại cơ sở, gần hội viên và nắm tương đối rõ điều kiện sản xuất của từng hộ, việc thẩm định và giám sát có thể dựa trên cả hồ sơ lẫn thực tế. Quan hệ cộng đồng và sự giám sát trong nhóm cũng góp phần nâng cao ý thức sử dụng vốn đúng mục đích.
Vai trò của Hội Nông dân vì thế đang dịch chuyển từ vận động phong trào sang đồng hành sâu hơn với sinh kế của hội viên. Hội trở thành đầu mối kết nối vốn, kỹ thuật, tổ chức sản xuất và có thể tiến tới hỗ trợ thị trường. Đây là vị trí đặc biệt quan trọng bởi không ít mô hình nông nghiệp gặp khó sau giai đoạn đầu tư, khi sản phẩm làm ra chưa có đầu ra ổn định.
Hai dự án tại Bảo Ái và Văn Phú đại diện cho hai hướng sản xuất khác nhau. Mạch môn là cây dược liệu, có triển vọng tạo giá trị cao hơn trên một đơn vị diện tích nhưng phụ thuộc vào chất lượng giống, quy trình canh tác và thị trường tiêu thụ. Cây keo có khả năng tạo vùng nguyên liệu lâm nghiệp nhưng chu kỳ sản xuất dài, chịu tác động của thời tiết, sâu bệnh, giá gỗ và thời điểm khai thác.
Bởi vậy, thời hạn vay 36 tháng cần được đặt trong dòng tiền thực tế của từng mô hình. Với dự án trồng và chăm sóc cây keo, khả năng hoàn vốn còn phụ thuộc vào độ tuổi rừng, mục đích sử dụng khoản vay và kế hoạch khai thác của từng hộ. Nếu vốn được dùng để chăm sóc diện tích đã có, hiệu quả sẽ khác với trường hợp đầu tư một chu kỳ trồng mới.
Tương tự, với cây mạch môn, nguồn vốn chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi sản phẩm có quy trình kỹ thuật phù hợp, được sơ chế, bảo quản và kết nối tiêu thụ. Nếu thiếu thị trường, việc mở rộng diện tích có thể khiến người trồng đối mặt với áp lực đầu ra.
Điều đó cho thấy vai trò của Hội Nông dân không dừng lại sau ngày giải ngân. Giá trị của tổ chức Hội sẽ thể hiện rõ hơn trong suốt quá trình triển khai: theo dõi mô hình, nhận diện sớm khó khăn, kết nối tập huấn kỹ thuật và hỗ trợ hội viên tìm kiếm thị trường.
![]() |
| Quỹ Hỗ trợ nông dân tỉnh giải ngân vốn thực hiện dự án “Trồng và chăm sóc cây keo” tại phường Văn Phú. (Ảnh: Kim Thoa) |
Thu hồi đầy đủ vốn và lãi là yêu cầu quan trọng để bảo toàn nguồn Quỹ, tiếp tục quay vòng hỗ trợ các hội viên khác. Tuy nhiên, nếu chỉ dùng tỷ lệ thu hồi vốn làm thước đo thì chưa phản ánh hết hiệu quả của chương trình.
Kết quả của hai dự án còn có thể nhìn từ mức tăng thu nhập của hộ vay, diện tích sản xuất được mở rộng, năng suất và chất lượng sản phẩm, khả năng hình thành vùng nguyên liệu, mức độ liên kết giữa các hộ và đầu ra sau thu hoạch. Xa hơn là khả năng nhân rộng mô hình sang những hội viên chưa được vay vốn trong đợt này.
Từ 1,8 tỷ đồng giải ngân cho 18 hộ, giá trị lớn nhất không nằm ở số lượng người được vay ngay lập tức mà ở khả năng tạo ra những mô hình đủ hiệu quả để cộng đồng học tập và làm theo. Khi vốn được gắn với tổ hội nghề nghiệp, chuyển giao kỹ thuật, trách nhiệm môi trường và liên kết tiêu thụ, Quỹ Hỗ trợ nông dân có thể trở thành một công cụ tổ chức lại sản xuất từ cơ sở.
Đó cũng là vai trò ngày càng rõ của Hội Nông dân: không làm thay người dân, nhưng tạo ra điểm tựa để hội viên tiếp cận vốn, cùng sản xuất, cùng chia sẻ rủi ro và từng bước chuyển từ tư duy làm riêng lẻ sang phát triển kinh tế theo liên kết.