Nghịch lý của ngành nông nghiệp Việt Nam: Xuất khẩu lúa gạo đứng trong “top” đầu thế giới nhưng vẫn chi “tỷ đô” nhập nguyên liệu thức ăn chăn nuôi

DNHN - Là đất nước nông nghiệp, xuất khẩu lúa gạo đứng trong “top” đầu thế giới nhưng Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước dẫn đến tình trạng ngành thức ăn chăn nuôi (TĂCN) cứ loay hoay quanh chuyện thiếu nguyên liệu sản xuất hay giá quá phụ thuộc vào thị trường thế giới...

80% nguyên liệu phải nhập khẩu

Mặc dù ngành sản xuất TĂCN đã có những bước tiến mạnh mẽ, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển ngành chăn nuôi, tuy nhiên nếu nhìn một cách tổng thể còn tồn tại nhiều bất cập. Theo một thống kê gần đây cho biết mỗi năm, cả nước ta phải chi khoảng 3 tỷ USD để nhập khẩu hơn 8 triệu tấn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như ngô, đậu tương, bột cá, bột xương, một con số không hề nhỏ đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam. Những thị trường nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi chính của Việt Nam là Mỹ, Nam Mỹ, EU, Nga,… khu vực đang chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19 khiến việc giao thương và hệ thống logistic gần như tê liệt.

Có thể thấy là nước sản xuất và xuất khẩu lương thực nằm ở tốp đầu thế giới, song ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi nước ta vẫn phải nhập khẩu 70-80% nguyên liệu từ nước ngoài. Nguyên nhân là do các loại nguyên liệu sản xuất thức ăn như ngũ cốc, đậu tương, khô dầu các loại, phụ gia… hiện Việt Nam sản xuất không đủ hoặc do giá thành quá cao so với sản phẩm nhập khẩu cùng loại. Trong khi mỗi năm Việt Nam xuất khẩu khoảng 6 triệu tấn gạo, trị giá khoảng 2,8 tỷ USD thì lại cần nhập tới trên 15 triệu tấn nguyên liệu sản xuất TĂCN, trị giá gần 3,8 tỷ USD, như vậy giá trị nhập siêu riêng lĩnh vực lương thực đã lên tới khoảng 1 tỷ USD mỗi năm.

Chính vì vậy, từ nhiều năm nay, ngành sản xuất TĂCN luôn phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, dẫn tới tình trạng thiếu ổn định, dễ bị tổn thương khi có sự cố xảy ra.

Năm 2020, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 cộng thêm bệnh dịch tả lợn châu Phi chưa ổn định khiến các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi bị ảnh hưởng nặng nề khi vừa thiếu nguyên liệu sản xuất, vừa khó tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm. Cũng giống như nhiều ngành sản xuất lớn trong nước, có thể nói hiện nay các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đang ở trong giai đoạn khó khăn nhất. Đại dịch Covid-19 đã khiến ngành vận tải biển và đường bộ gặp khó khăn do khâu kiểm soát dịch bệnh khắt khe tại các nước xuất khẩu, thậm chí nhiều nước đã tạm dừng hoạt động dẫn tới tình trạng đứt gẫy chuỗi cung ứng. Hệ lụy là có nhiều thời điểm, một số doanh nghiệp giảm sâu sản lượng sản xuất do thiếu nguyên liệu. Một số doanh nghiệp lớn như: Công ty C.P Việt Nam, Cargill, GreenFeed… thông thường luôn hoạt động đến 80% công suất thì có những tháng khi dịch Covid bùng phát mạnh, các doanh nghiệp này chỉ hoạt động khoảng 30 – 40% công suất.

Thông tin từ Tập đoàn Dabaco Việt Nam cho biết, do ảnh hưởng của việc đứt gãy chuỗi cung ứng vận tải logistics toàn cầu do dịch COVID-19, việc nhập khẩu nguyên liệu phục vụ nhà máy ép dầu và nguyên liệu TĂCN của Dabaco tháng 1 liên tục trong tình trạng vừa chạy máy vừa chờ nguyên liệu. Nhà máy Dầu thực vật Coba của Dabaco hiện mỗi tháng chỉ chạy được từ 18 - 20 ngày, còn lại phải dừng máy do nguyên liệu đậu tương nhập khẩu không về kịp dù trước đó doanh nghiệp đã chủ động tích trữ nguyên liệu lên tới 100.000 tấn.Ngoài việc khó khăn về nhập khẩu, giá nguyên liệu tăng lên khá mạnh khiến các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi cũng phải tăng giá thức ăn chăn nuôi.

Một bất cập khác, trong lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi, các doanh nghiệp nội luôn yếu thế trước doanh nghiệp ngoại. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, cả nước hiện có khoảng 265 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, trong đó có 85 nhà máy thuộc doanh nghiệp nước ngoài (chiếm tỷ lệ 32%), 180 nhà máy thuộc doanh nghiệp trong nước (chiếm 68%). Mặc dù có số lượng nhà máy chiếm áp đảo, trong đó có một số doanh nghiệp quy mô lớn như: Dabaco, Masan, GreenFeed, Vina, Lái Thiêu… nhưng các doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm khoảng 35% thị phần cung cấp thức ăn chăn nuôi, 65% thị phần còn lại do các doanh nghiệp nước ngoài nắm giữ thị trường nhập khẩu, ngành có lợi thế tại Việt Nam chậm phát triển, mở rộng. 

Cần tự chủ hơn về nguyên liệu TĂCN

Một số chuyên gia cho rằng, Việt Nam thường xuyên phải nhập khẩu nhiều nguyên liệu thức ăn chăn nuôi là bởi trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, cây trồng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi chưa được chú ý thỏa đáng, chưa có chính sách khuyến khích hợp lý. Giá cả thị trường đối với các sản phẩm từ cây trồng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi lên xuống thất thường, người dân phải tự chịu sự rủi ro. Đến nay, trong chiến lược phát triển nông nghiệp của Bộ NN&PTNT chưa thấy cơ cấu cây trồng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong quỹ đất canh tác nông nghiệp toàn quốc. Bên cạnh đó, Việt Nam luôn thiếu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi giàu đạm, giàu năng lượng, thiếu khoáng vi lượng, thức ăn bổ sung, premix…

Ở góc độ doanh nghiệp, nói về thiệt thòi của ngành chăn nuôi khi sản xuất TĂCN quá phụ thuộc vào thị trường nhập khẩu, ông Lâm Thanh Đức, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH thương mại dịch vụ sản xuất và chăn nuôi Thanh Đức dẫn chứng, Việt Nam là nước nông nghiệp nhưng nguyên liệu TĂCN hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường nhập khẩu. Điều người chăn nuôi lo lắng nhất hiện nay là ngành chế biến thức ăn chăn nuôi ngày càng phụ thuộc vào thị trường nhập khẩu, không ít lần doanh nghiệp rơi vào cảnh lỗ vốn vì vừa đặt mua bắp nhập khẩu với sản lượng lớn dự trữ để chế biến TĂCN thì ngay sau đó mặt hàng này giảm giá. Nhưng nếu không chủ động trữ hàng thì giá nguyên liệu TĂCN lại tăng không ngừng. Người chăn nuôi đang “thiệt đơn thiệt kép” vì tình hình giá cả biến động thất thường này.

Theo ông Đức, việc nhập khẩu nguyên liệu TĂCN chủ yếu vẫn nằm “trong tay” các tập đoàn lớn của nước ngoài và thị trường này đang có dấu hiệu bị thao túng. Nguyên nhân do họ mạnh về nguồn vốn nên thường dự trữ sản lượng lớn nguồn nguyên liệu trong chế biến, khi giá nguyên liệu chế biến vừa tăng giá, giá TĂCN lập tức sẽ tăng theo. Trong khi đó, nguồn nguyên liệu trong nước không cạnh tranh được với hàng nhập. Đây cũng là nguyên nhân TĂCN trong nước luôn cao hơn mặt bằng chung của thế giới khiến sản phẩm chăn nuôi nội địa cũng khó cạnh tranh về giá so với hàng nhập.

Ông Lê Bá Lịch - Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam
Ông Lê Bá Lịch - Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam.

Ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam cho rằng, nếu tổ chức lại sản xuất, bố trí lại cơ cấu cây trồng một cách hợp lý thì “bài toán” dần tự chủ nguyên liệu TĂCN vẫn có thể giải được. Trong đó, giải pháp quan trọng nhất là phải dành quỹ đất trồng cây thức ăn gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản. Đối với cây ngô thì không phải là 1 triệu ha ngô như hiện nay mà phải nâng lên 1,5 - 2 triệu ha ngô. Hiện nay, 1 triệu ha ngô cho ra 5 triệu tấn ngô thì khi diện tích nâng lên 2 triệu ha, con số này sẽ là 10 triệu tấn. Đây là nhu cầu bắt buộc để thay thế việc vận chuyển ngô từ Nam Mỹ, nửa vòng trái đất mới về tới Việt Nam. Để tăng diện tích trồng ngô, cần nghiên cứu giảm diện tích trồng lúa xuống, đặc biệt là những diện tích trồng lúa kém hiệu quả.

Tập trung nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất premix, khoáng vi lượng, các loại thức ăn bổ sung, đồng thời phổ biến miễn phí các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi thông qua đào tạo, tập huấn, in sách phổ biến khoa học kỹ thuật cũng là một giải pháp quan trọng phải tính đến”, ông Lịch nhấn mạnh.

Còn theo TS. Lê Quý Kha - Phó viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, nhiều nước xuất khẩu nông sản mạnh, trong đó có xuất khẩu nguyên liệu TĂCN như: Mỹ, Brasil… có ưu thế về diện tích lớn, họ đã áp dụng nông nghiệp 4.0 vào sản xuất vào tất cả các khâu từ sản xuất, kiểm soát vật tư đầu vào, kiểm soát dịch bệnh, điều khiển tưới, bón dinh dưỡng tự động bằng những bộ  phận cảm biến… Trong khi đó, ở Việt Nam cây bắp từ khâu gieo trồng đến chăm sóc đều thủ công; thu hoạch cũng mới chỉ có số ít diện tích được đầu tư máy móc. Chi phí cao, năng suất không cao bằng nhiều nước trên thế giới nên không cạnh tranh được với bắp ngoại nhập. Chìa khóa là phải tổ chức lại sản xuất, phối hợp nhiều công nghệ đồng bộ trên cánh đồng, nhất là khai thác ưu thế của cơ giới hóa.

Gia Minh

Tin liên quan