Việc Chính phủ ban hành Nghị định 365/2026/NĐ-CP về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo đánh dấu bước điều chỉnh đáng chú ý trong quản lý một ngành hàng xuất khẩu chiến lược. Những rào cản gia nhập thị trường được cắt giảm, thủ tục cấp phép được đơn giản hóa. Tuy nhiên, phía sau cánh cửa chính sách rộng mở là câu hỏi không thể bỏ qua: Doanh nghiệp nhỏ và vừa có đủ năng lực tận dụng cơ hội, hay lợi thế tiếp tục thuộc về những thương nhân đã có sẵn hạ tầng và thị trường?
![]() |
| Nghị định số 365/2026/NĐ-CP (kỳ 1): Xuất khẩu gạo trước bước ngoặt chính sách - Cửa mở rộng, doanh nghiệp nhỏ có dễ bước vào? |
Giảm điều kiện kinh doanh: Bước tiến cải cách nhưng chưa xóa hết rào cản
Điểm đáng chú ý tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 365/2026/NĐ-CP là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh hợp pháp chỉ cần có ít nhất một kho chuyên dùng chứa thóc, gạo và một cơ sở xay xát gạo đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Theo khoản 2 Điều 4, những cơ sở này có thể thuộc sở hữu hoặc được thuê bằng hợp đồng văn bản, bảo đảm thời hạn của Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo.
Bộ Công Thương xác định Nghị định mới đã giảm số điều kiện kinh doanh từ ba xuống hai so với quy định trước đây.
Đây là thay đổi có ý nghĩa đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi không phải thương nhân nào cũng đủ nguồn vốn xây dựng hệ thống kho chứa và nhà máy xay xát riêng.
Việc cho phép sử dụng hạ tầng thuê mở thêm cơ hội gia nhập thị trường, hạn chế tình trạng nguồn lực tài chính ban đầu quyết định gần như toàn bộ khả năng tham gia xuất khẩu.
Tuy nhiên, doanh nghiệp cần nhìn nhận đầy đủ chi phí thực tế.
Thuê kho, thuê cơ sở xay xát không có nghĩa được miễn trách nhiệm về điều kiện kỹ thuật. Ngoài chi phí thuê, thương nhân còn phải bảo đảm tính hợp pháp của tài sản, thời hạn hợp đồng và việc duy trì điều kiện trong suốt quá trình kinh doanh.
Đặc biệt, đoạn thứ hai khoản 2 Điều 4 không cho phép thương nhân đã có Giấy chứng nhận cho thương nhân khác thuê lại kho, cơ sở xay xát đã được ghi nhận trong Giấy chứng nhận của mình để đề nghị cấp phép.
Quy định này nhằm hạn chế tình trạng sử dụng trùng lặp một cơ sở vật chất để hợp thức hóa điều kiện cho nhiều thương nhân.
Vì vậy, doanh nghiệp muốn gia nhập thị trường cần kiểm tra tình trạng pháp lý và khả năng sử dụng thực tế của hạ tầng trước khi ký hợp đồng thuê.
Cấp phép nhanh hơn, nhưng trách nhiệm chuyển mạnh sang hậu kiểm
Theo điểm a khoản 4 Điều 6, Bộ Công Thương xem xét cấp Giấy chứng nhận trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Điểm a, điểm b khoản 2 Điều 6 quy định hồ sơ gồm đơn đề nghị và các tài liệu chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền thuê kho, cơ sở xay xát. Khoản 3 cho phép nộp trực tiếp, qua bưu điện hoặc qua hệ thống điện tử.
Điều 9 còn quy định thương nhân không phải nộp lệ phí khi đề nghị cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận.
Những quy định này góp phần giảm chi phí thủ tục, nhưng thay đổi quan trọng hơn nằm ở cơ chế kiểm soát.
Khoản 1 Điều 5 yêu cầu thương nhân tự kê khai và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hồ sơ, giấy tờ và việc đáp ứng điều kiện kinh doanh.
Theo khoản 2 Điều 5, trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày Bộ Công Thương cấp Giấy chứng nhận, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có kho chứa chủ trì tổ chức hậu kiểm điều kiện kinh doanh.
Như vậy, được cấp Giấy chứng nhận chưa đồng nghĩa doanh nghiệp đã vượt qua toàn bộ quá trình kiểm tra.
Nếu kê khai không đúng thực tế về kho chứa, cơ sở xay xát, thương nhân có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận theo điểm e khoản 1 Điều 8.
Với doanh nghiệp nhỏ, đây là rủi ro không thể xem nhẹ. Một hợp đồng thuê thiếu chặt chẽ hoặc cơ sở vật chất không đáp ứng yêu cầu có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền xuất khẩu, kể cả khi doanh nghiệp đã có hợp đồng với đối tác nước ngoài.
Hộ kinh doanh trước cơ hội tham gia chuỗi giá trị gạo xuất khẩu
Nghị định 365 không chỉ tác động đến doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu mà còn ảnh hưởng đến các chủ thể thu mua, chế biến và cung ứng thóc, gạo.
Điều 2 xác định đối tượng áp dụng là thương nhân theo Luật Thương mại và các tổ chức, cá nhân liên quan.
Theo khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp và cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, có đăng ký kinh doanh.
Do đó, không thể kết luận mọi hộ kinh doanh đều bị loại khỏi phạm vi hoạt động thương mại liên quan đến xuất nhập khẩu gạo. Tuy nhiên, quyền trực tiếp xuất khẩu theo cơ chế cấp Giấy chứng nhận vẫn phải đáp ứng đầy đủ Điều 3, Điều 4 và các quy định có liên quan.
Đối với phần lớn hộ thu mua, xay xát hoặc kinh doanh gạo quy mô nhỏ, cơ hội thực tế có thể nằm ở việc tham gia chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Khoản 2 Điều 13 yêu cầu thương nhân mua thóc, gạo qua thương nhân khác hoặc cơ sở chế biến phải tổ chức liên kết thành hệ thống ổn định.
Quy định này có thể thúc đẩy quan hệ mua bán dài hạn, tạo điều kiện để hộ kinh doanh và cơ sở chế biến tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Tuy nhiên, muốn khai thác cơ hội, các chủ thể nhỏ cần chú trọng hợp đồng mua bán, chất lượng hàng hóa, truy xuất nguồn gốc và năng lực giao hàng đúng cam kết.
Mở cửa thị trường phải đi cùng năng lực gia nhập thực chất
Nghị định 365 tạo bước tiến trong cải cách điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, nhất là việc giảm yêu cầu về hạ tầng và đơn giản hóa thủ tục.
Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ hội chỉ trở thành hiện thực khi có khả năng duy trì điều kiện kinh doanh, quản trị hợp đồng và đáp ứng yêu cầu hậu kiểm.
Với hộ kinh doanh, việc tham gia chuỗi liên kết có thể là hướng phát triển phù hợp trước khi cân nhắc mở rộng sang hoạt động xuất khẩu trực tiếp.
Cải cách thể chế không chỉ được đo bằng số điều kiện bị cắt giảm, mà còn bằng số doanh nghiệp có đủ năng lực bước vào thị trường và tồn tại bền vững trong cuộc cạnh tranh.
| Đón đọc kỳ 2: Nghị định số 365/2026/NĐ-CP: Giấy phép xuất khẩu gạo không còn là tấm vé an toàn: Doanh nghiệp đối mặt những rủi ro nào? |
