| Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 2): Kiểm soát giải ngân vốn viện trợ, doanh nghiệp cần lưu ý gì? Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Siết quản lý vốn viện trợ nước ngoài, doanh nghiệp cần lưu ý gì? |
Không phải mọi khoản viện trợ nước ngoài đều được chuyển giao dưới hình thức tiền. Hàng hóa, thiết bị, dịch vụ hoặc công trình hoàn thành cũng có thể là nguồn lực quan trọng cho các chương trình phát triển. Thông tư 140/2026/TT-BTC đặt ra yêu cầu quản lý, hạch toán và quyết toán rõ hơn đối với những nguồn lực này, đồng thời tăng trách nhiệm báo cáo của các cơ quan liên quan.
![]() |
| Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 3): Siết quản lý tài sản viện trợ, tăng trách nhiệm giải trình |
Viện trợ bằng hàng hóa, công trình: Giá trị tài sản phải được ghi nhận đầy đủ
Khoản 11 Điều 1 Thông tư 140 sửa đổi Điều 13 Thông tư 23/2022/TT-BTC về viện trợ bằng hiện vật, hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả khoản viện trợ do nhà tài trợ trực tiếp thực hiện tại Việt Nam hoặc theo phương thức chìa khóa trao tay.
Theo khoản 2 Điều 13 sau sửa đổi, đối với các khoản viện trợ bằng hiện vật, hàng hóa do nhà tài trợ nước ngoài trực tiếp thực hiện hoặc ủy thác cho đơn vị khác, cũng như khoản viện trợ theo phương thức chìa khóa trao tay, sau khi bàn giao cho phía Việt Nam, chủ dự án phải tập hợp hồ sơ, chứng từ liên quan và xác định giá trị để báo cáo cơ quan chủ quản xem xét, quyết định việc bổ sung dự toán, hạch toán ngân sách.
Quy định này cho thấy nghĩa vụ quản lý tài chính không chấm dứt tại thời điểm công trình hoàn thành hoặc tài sản được bàn giao.
Một hệ thống thiết bị được tài trợ có thể mang lại lợi ích kinh tế - xã hội, nhưng nếu thiếu hồ sơ xác định giá trị, biên bản bàn giao hoặc căn cứ về quyền sở hữu, quá trình ghi nhận và quản lý tài sản có thể gặp khó khăn.
Khoản 13 Điều 1 Thông tư 140 sửa đổi Điều 17 Thông tư 23, phân biệt việc quản lý tài sản thuộc phạm vi tài sản công với tài sản hình thành từ nguồn viện trợ thuộc diện ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cung ứng thiết bị, xây dựng công trình hoặc cung cấp dịch vụ cho dự án, yêu cầu đặt ra là chuẩn bị đầy đủ hồ sơ kỹ thuật, hóa đơn, chứng từ, biên bản nghiệm thu và bàn giao theo hợp đồng và pháp luật có liên quan.
Thiếu sót trong hồ sơ có thể không chỉ ảnh hưởng đến việc thanh toán mà còn làm chậm quá trình quyết toán hoặc tiếp nhận tài sản của dự án.
Quyết toán không chỉ là bước cuối cùng của dự án
Khoản 14 Điều 1 Thông tư 140 sửa đổi một số quy định tại Điều 18 Thông tư 23 về quyết toán nguồn viện trợ.
Đáng chú ý, điểm b khoản 1 Điều 18 sau sửa đổi quy định Bộ Tài chính kiểm tra quyết toán của đơn vị dự toán ngân sách cấp I cùng cấp về tính đầy đủ và khớp đúng giữa số liệu quyết toán với xác nhận của Kho bạc Nhà nước.
Điểm c khoản 1 Điều 18 quy định số dư dự toán không sử dụng đến hết thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách nhà nước được hủy, trừ số được chuyển nguồn theo quy định.
Khoản 3 Điều 18 được sửa đổi, xác định việc quyết toán dự án hoàn thành thực hiện theo Nghị định 193/2026/NĐ-CP và Thông tư 73/2026/TT-BTC về hệ thống mẫu biểu quyết toán vốn đầu tư dự án.
Ở góc độ chính sách, cơ chế này đặt ra yêu cầu đối chiếu giữa dòng tiền, chứng từ thanh toán và kết quả thực hiện, hạn chế tình trạng dự án hoàn thành về mặt hoạt động nhưng tồn đọng thủ tục tài chính.
Đối với doanh nghiệp, rủi ro có thể xuất hiện khi việc nghiệm thu, thanh toán và quyết toán không được thực hiện theo trình tự, điều kiện đã thỏa thuận.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có nguồn vốn lưu động hạn chế, do đó việc kéo dài thời gian hoàn chỉnh hồ sơ có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán cho nhà cung cấp hoặc người lao động.
Hộ kinh doanh tham gia cung ứng sản phẩm, dịch vụ cũng cần lưu giữ chứng từ đầy đủ và xác định rõ thời điểm thanh toán, tránh phụ thuộc vào những cam kết không được ghi nhận trong hợp đồng.
Chế độ báo cáo mới và áp lực quản trị dữ liệu
Khoản 15 Điều 1 Thông tư 140 sửa đổi Điều 20 Thông tư 23, xác định các nhóm báo cáo định kỳ hằng quý và hằng năm về tiếp nhận, sử dụng vốn viện trợ bằng tiền, bằng hàng hóa, dịch vụ và tình hình hạch toán ghi thu, ghi chi ngân sách.
Theo điểm c khoản 15 Điều 1, thời hạn gửi báo cáo quý được quy định chậm nhất vào ngày 25 của tháng cuối kỳ báo cáo.
Điểm d khoản 15 Điều 1 quy định cơ quan chủ quản gửi báo cáo trực tuyến qua Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Tài chính; nếu hệ thống chưa vận hành thì gửi bản điện tử qua Hệ thống văn bản và điều hành.
Khoản 16 Điều 1 tiếp tục sửa đổi trách nhiệm báo cáo của Sở Tài chính và Kho bạc Nhà nước. Khoản 17 Điều 1 quy định ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản tiếp nhận viện trợ lập báo cáo giao dịch thu, chi hằng tháng, gửi trước ngày 05 của tháng tiếp theo.
Những quy định này hướng đến tăng khả năng đối chiếu số liệu giữa cơ quan chủ quản, cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước và ngân hàng thương mại.
Với doanh nghiệp tham gia dự án, yêu cầu thực tiễn là chuẩn hóa dữ liệu hợp đồng, nghiệm thu và thanh toán để sẵn sàng giải trình khi chủ dự án cần kiểm tra, đối chiếu.
Tuy nhiên, không nên hiểu rằng mọi doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ đều trực tiếp phải gửi các báo cáo ngân sách nêu trên. Nghĩa vụ báo cáo được xác định theo từng chủ thể trong Thông tư.
Minh bạch tài sản và dữ liệu quyết định hiệu quả sử dụng viện trợ
Thông tư 140/2026/TT-BTC tăng cường sự kết nối giữa quản lý tài sản, quyết toán và báo cáo tài chính nguồn viện trợ.
Đối với cơ quan, chủ chương trình, yêu cầu trọng tâm là kiểm soát giá trị tài sản, hồ sơ bàn giao và tính thống nhất của số liệu.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh tham gia dự án, ưu tiên cần thiết là quản trị hợp đồng, chứng từ và công nợ.
Hiệu quả viện trợ không chỉ được đo bằng số tiền giải ngân hoặc số công trình hoàn thành, mà còn bằng khả năng chứng minh nguồn lực đã được sử dụng đúng mục đích, đúng quy định và tạo ra giá trị thực tế.
