| Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Siết quản lý vốn viện trợ nước ngoài, doanh nghiệp cần lưu ý gì? |
Nguồn viện trợ không hoàn lại có thể giúp nhiều chương trình, dự án bổ sung nguồn lực đầu tư và phát triển. Tuy nhiên, tiền được nhà tài trợ chuyển về tài khoản chưa đồng nghĩa mọi điều kiện sử dụng, hạch toán và thanh toán đã hoàn tất. Thông tư 140/2026/TT-BTC làm rõ thêm trách nhiệm quản lý dòng tiền, qua đó đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro từ khâu tiếp nhận đến giải ngân.
![]() |
| Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 2): Kiểm soát giải ngân vốn viện trợ, doanh nghiệp cần lưu ý gì? |
Tiếp nhận vốn viện trợ: Tài khoản ngân hàng không nằm ngoài cơ chế quản lý ngân sách
Khoản 10 Điều 1 Thông tư 140/2026/TT-BTC sửa đổi Điều 12 Thông tư 23/2022/TT-BTC về viện trợ bằng tiền cho chương trình, dự án, phi dự án do phía Việt Nam thực hiện.
Theo khoản 1 Điều 12 sau sửa đổi, căn cứ hiệp định hoặc thỏa thuận viện trợ và quyết định phê duyệt, chủ chương trình, dự án mở tài khoản tiếp nhận vốn tại Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại theo quy định.
Đáng chú ý, trong vòng 15 ngày kể từ ngày mở tài khoản, chủ chương trình, dự án phải thông tin cho cơ quan chủ quản về tài khoản tiếp nhận vốn viện trợ thuộc nguồn thu ngân sách nhà nước.
Quy định này khẳng định việc mở tài khoản tiếp nhận vốn không chỉ là nghiệp vụ ngân hàng, mà là một mắt xích trong quản lý tài chính công.
Đối với vốn đã tiếp nhận vào tài khoản tại ngân hàng thương mại nhưng chưa giải ngân và chưa hạch toán ngân sách, điểm b khoản 2 Điều 12 quy định thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận khoản giải ngân của nhà tài trợ để chủ chương trình, dự án gửi thông báo bằng văn bản kèm chứng từ ghi có đến cơ quan có thẩm quyền tương ứng.
Về quản trị, hai mốc thời gian 15 ngày và 05 ngày làm việc tạo ra yêu cầu cập nhật dòng tiền kịp thời.
Nếu cơ quan quản lý không nắm được khoản tiền đã tiếp nhận, việc đối chiếu nguồn vốn, xây dựng kế hoạch thanh toán và kiểm tra sử dụng vốn có thể gặp khó khăn.
Tiền đã tiếp nhận nhưng chưa có dự toán: Khoảng trống cần kiểm soát
Một điểm đáng chú ý khác tại điểm b khoản 2 Điều 12 là cơ chế theo dõi khoản viện trợ đã tiếp nhận, chi tiêu nhưng chưa có dự toán. Trường hợp này, chủ dự án phải báo cáo cơ quan chủ quản định kỳ hằng quý để tổng hợp, theo dõi.
Đồng thời, điểm a khoản 1 Điều 18 được sửa đổi tại điểm a khoản 14 Điều 1 Thông tư 140 quy định trách nhiệm của cơ quan chủ quản đối với hồ sơ, chứng từ và việc tổng hợp số liệu để Bộ Tài chính báo cáo cấp có thẩm quyền bổ sung dự toán khi quyết toán ngân sách hằng năm.
Điều này cần được nhìn nhận thận trọng: Quy định về xử lý, báo cáo khoản đã tiếp nhận và chi tiêu nhưng chưa có dự toán không phải sự cho phép chung để chi tiêu ngoài dự toán.
Việc tiếp nhận, sử dụng nguồn viện trợ vẫn phải tuân thủ điều kiện áp dụng trong Luật Ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan.
Ở góc độ chính sách, quy định nhằm tạo cơ sở ghi nhận, xử lý những khoản viện trợ phát sinh trong thực tế, đồng thời xác lập trách nhiệm đối với việc hoàn chỉnh thủ tục ngân sách.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa cung ứng cho dự án, rủi ro không nằm ở việc có hay không có cam kết tài trợ đơn thuần, mà ở điều kiện sử dụng nguồn vốn để thanh toán hợp đồng.
Doanh nghiệp cần yêu cầu chủ đầu tư hoặc bên ký hợp đồng làm rõ kế hoạch vốn, điều kiện nghiệm thu và hồ sơ thanh toán. Không nên dựa hoàn toàn vào thông báo tài trợ để quyết định cung ứng hàng hóa với giá trị lớn.
Doanh nghiệp nhà nước và cơ chế hạch toán vốn viện trợ
Khoản 3 Điều 12, được sửa đổi bởi khoản 10 Điều 1 Thông tư 140, quy định cụ thể việc hạch toán đối với doanh nghiệp nhà nước tiếp nhận viện trợ bằng tiền theo phương thức phía Việt Nam trực tiếp thực hiện.
Theo điểm a khoản 3 Điều 12, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, khi đáp ứng điều kiện tiếp nhận và có quyết định của cấp có thẩm quyền cho phép tăng vốn điều lệ, vốn viện trợ sử dụng được hạch toán thu, chi ngân sách để tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Cơ chế tương ứng cũng được quy định đối với doanh nghiệp có vốn nhà nước từ trên 50% đến dưới 100% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết khi đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp luật.
Điểm đáng chú ý là khoản viện trợ không thể tùy ý ghi nhận thành nguồn vốn doanh nghiệp mà không xét đến điều kiện tiếp nhận, phê duyệt và cơ chế tài chính.
Đối với doanh nghiệp thuộc diện này, kế toán và bộ phận pháp chế cần phối hợp xác định căn cứ tăng vốn, quyết định có thẩm quyền và phương thức hạch toán.
Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa không thuộc trường hợp được quy định không thể mặc nhiên áp dụng cơ chế tăng vốn nhà nước nói trên.
Với hộ kinh doanh, ảnh hưởng chủ yếu nằm ở khả năng tham gia cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho dự án được tài trợ và việc thu hồi công nợ theo hợp đồng.
Quản trị dòng tiền phải đi trước giải ngân
Thông tư 140 đặt trọng tâm vào việc ghi nhận, theo dõi và hạch toán vốn viện trợ theo đúng cơ chế ngân sách.
Các chủ chương trình cần quản lý chặt thông tin tài khoản, thời điểm nhận vốn, hồ sơ chứng từ và điều kiện giải ngân.
Doanh nghiệp tham gia thực hiện dự án nên kiểm tra khả năng thanh toán, không dựa duy nhất vào giá trị viện trợ được cam kết.
Một khoản tiền đã chuyển về tài khoản có thể là tín hiệu tích cực về nguồn lực, nhưng chỉ khi được quản lý và sử dụng đúng quy định, nguồn vốn đó mới thực sự hỗ trợ tiến độ dự án và hạn chế rủi ro cho các bên.