![]() |
| Đề xuất khung pháp lý mới cho thu giữ, lưu trữ carbon trong hoạt động dầu khí |
Tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dầu khí, Bộ Công Thương đề xuất bổ sung khung quy định đối với hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) gắn với hoạt động dầu khí.
Theo Bộ Công Thương, đây là nội dung mới so với Nghị định số 45/2023/NĐ-CP. Các quy định tại dự thảo chỉ áp dụng đối với hoạt động CCS gắn với hoạt động dầu khí thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Dầu khí. Những vấn đề về bảo vệ môi trường, tín chỉ carbon, đo đạc, báo cáo, thẩm định, xác nhận giảm phát thải và các nội dung chuyên ngành khác sẽ thực hiện theo pháp luật có liên quan.
Một trong những nội dung đáng chú ý tại dự thảo là quy định về đánh giá tiềm năng lưu trữ CO₂ trước khi triển khai hoạt động CCS.
Theo đó, báo cáo đánh giá phải làm rõ nhiều yếu tố liên quan đến đặc điểm địa chất và khả năng lưu trữ, trong đó có lịch sử kiến tạo, cấu trúc địa chất, hệ thống đứt gãy; đặc điểm địa chất, địa vật lý của thành tạo dự kiến lưu trữ CO₂; kết quả mô phỏng thủy động lực vỉa chứa ba chiều và khả năng lưu trữ theo các kịch bản khác nhau.
Bên cạnh khả năng lưu trữ, dự thảo đặt ra yêu cầu đánh giá rủi ro rò rỉ CO₂, tác động của hoạt động bơm ép đến vùng ảnh hưởng áp suất, các vỉa chứa dầu khí lân cận cũng như những rủi ro đối với con người, môi trường và tài nguyên.
Tình trạng các giếng khoan hiện hữu xuyên qua thành tạo lưu trữ và phương án xử lý nhằm bảo đảm tính toàn vẹn của hệ thống cũng phải được đánh giá. Báo cáo sẽ là một thành phần trong hồ sơ đề xuất triển khai hoạt động CCS và làm cơ sở xây dựng kế hoạch triển khai theo quy định của Luật Dầu khí.
Dự thảo đề xuất cho phép nhà thầu bổ sung hoạt động CCS vào hợp đồng dầu khí trên cơ sở báo cáo đánh giá tiềm năng lưu trữ CO₂ và kế hoạch triển khai hoạt động CCS.
Nhà thầu có thể tiếp nhận CO₂ phát sinh từ hoạt động dầu khí cũng như từ các hoạt động phát thải khác để xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ trong khuôn khổ hợp đồng dầu khí. Riêng việc thu giữ CO₂ tại các cơ sở phát thải ngoài hoạt động dầu khí sẽ thực hiện theo pháp luật có liên quan.
Trường hợp thành tạo địa chất lưu trữ CO₂ hoặc vùng ảnh hưởng áp suất vượt ra ngoài diện tích hợp đồng dầu khí hiện hữu sang lô mở liền kề, việc đề xuất mở rộng diện tích hợp đồng để phục vụ lưu trữ CO₂ sẽ được thực hiện theo quy định của Luật Dầu khí.
Các kế hoạch triển khai CCS có thể được tích hợp trong kế hoạch phát triển mỏ dầu khí hoặc được lập riêng. Dự thảo đồng thời quy định việc lập kế hoạch thu dọn công trình CCS khi hoạt động kết thúc.
Một điểm đáng chú ý khác là trách nhiệm của nhà thầu sau khi kết thúc hoạt động bơm ép CO₂.
Khi kết thúc hoạt động CCS, nhà thầu phải thực hiện thu dọn công trình theo quy định. Việc thu dọn bao gồm hủy giếng bơm ép theo quy trình kỹ thuật bảo đảm tính toàn vẹn lâu dài, xử lý các công trình CCS trên bề mặt và dưới đáy biển, đồng thời lập báo cáo tổng kết thu dọn.
Đáng chú ý, nhà thầu phải tiếp tục giám sát, quan trắc, bảo đảm an toàn cơ sở lưu trữ CO₂ và khắc phục sự cố rò rỉ, ô nhiễm môi trường nếu có, bằng chi phí của mình trong thời hạn tối thiểu 20 năm sau khi kết thúc hoạt động bơm ép. Trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể yêu cầu thời hạn dài hơn.
Trong thời gian này, nhà thầu phải theo dõi tính toàn vẹn của giếng và công trình liên quan, sự ổn định và di chuyển của CO₂ trong thành tạo địa chất, dấu hiệu rò rỉ cũng như những tác động bất thường đến môi trường.
Sau thời hạn giám sát, nhà thầu có thể đề xuất chuyển giao trách nhiệm quản lý cơ sở lưu trữ CO₂ cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam khi đáp ứng đồng thời các điều kiện về an toàn, tính ổn định của CO₂, tình trạng các giếng và nghĩa vụ tài chính liên quan đến hoạt động CCS.
Dự thảo cũng đề xuất cơ chế xác định các khoản chi phí dự án CCS được phép thu hồi trong hoạt động dầu khí.
Các khoản chi phí này gồm đánh giá tiềm năng lưu trữ CO₂; lập các kế hoạch triển khai CCS; thiết kế, mua sắm, chế tạo, xây dựng và lắp đặt hệ thống công trình CCS; khoan, hoàn thiện giếng bơm ép và giếng quan trắc; vận hành hệ thống thu giữ, xử lý, vận chuyển và bơm ép CO₂.
Ngoài ra còn có chi phí giám sát, đo đạc, kiểm chứng; bảo hiểm; thu dọn công trình và giám sát sau khi kết thúc bơm ép CO₂, cùng các chi phí hợp lý, hợp lệ khác liên quan trực tiếp đến hoạt động CCS theo hợp đồng dầu khí.
Theo đề xuất, các khoản chi phí này được thu hồi theo mức thu hồi chi phí của hợp đồng dầu khí hiện hữu, cùng với các chi phí hoạt động dầu khí khác. Nhà thầu đồng thời phải hạch toán riêng các khoản chi phí liên quan đến CCS để phục vụ kiểm toán và quyết toán.
Dự thảo dành một phần quy định riêng cho doanh thu từ tín chỉ carbon. Nhà thầu triển khai CCS được thực hiện quyền sở hữu, trao đổi, mua bán tín chỉ carbon theo pháp luật về bảo vệ môi trường.
Doanh thu từ bán tín chỉ carbon trước hết được sử dụng để bù đắp chi phí hoạt động CCS, tính trên phần tăng thêm so với mức thu hồi chi phí đã được xác định trong hợp đồng dầu khí.
Phần doanh thu từ tín chỉ carbon vượt quá tổng chi phí CCS chưa được thu hồi sẽ được phân chia giữa nhà thầu và nước chủ nhà theo tỷ lệ chia dầu khí lãi quy định trong hợp đồng dầu khí.
Để bảo đảm cơ sở xác định tín chỉ carbon, khối lượng CO₂ được lưu trữ phải dựa trên kết quả đo đạc, kiểm chứng thực tế, phù hợp với pháp luật về bảo vệ môi trường và các tiêu chuẩn quốc tế về kiểm chứng lượng CO₂ lưu trữ.
Nhà thầu cũng có trách nhiệm quản lý, lưu trữ và cung cấp đầy đủ dữ liệu về lượng CO₂ được thu giữ, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ để phục vụ đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác nhận lượng giảm phát thải theo quy định.
Việc bổ sung các quy định về CCS vào dự thảo Nghị định được kỳ vọng tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai hoạt động thu giữ và lưu trữ CO₂ gắn với hoạt động dầu khí, đồng thời xác lập rõ hơn trách nhiệm của nhà thầu, cơ chế thu hồi chi phí và xử lý nguồn thu từ tín chỉ carbon.