![]() |
Mất việc vào thời điểm cuối năm âm lịch, khi hàng loạt khoản chi cho sinh hoạt, học hành của con và nhu cầu Tết đang đến gần, có thể khiến nhiều gia đình công nhân rơi vào thế bị động. Tiền lương dừng lại nhưng tiền thuê nhà, điện nước, thực phẩm và những khoản trả góp hằng tháng vẫn phải thanh toán.
Với những lao động có tích lũy hạn chế, vài tháng không có việc làm đủ khiến khoản tiết kiệm cạn dần. Không ít người phải giảm chi tiêu, vay mượn người thân hoặc chấp nhận công việc mới có thu nhập thấp hơn để duy trì cuộc sống.
Trong hoàn cảnh ấy, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) không đơn thuần là khoản tiền hỗ trợ sau khi chấm dứt hợp đồng lao động. Chính sách tạo ra một khoảng thời gian có bảo đảm thu nhập, giúp người lao động tìm kiếm công việc phù hợp mà không phải ngay lập tức đối mặt với nguy cơ mất khả năng chi trả những nhu cầu thiết yếu.
Theo Bản tin Thị trường lao động Việt Nam quý IV/2025, công bố ngày 26/1/2026, cả nước ghi nhận 166.277 người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm khoảng 54.200 người so với quý trước và 8.200 người so với cùng kỳ năm 2024.
Trong cùng quý, có 178.667 người được ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp. Bên cạnh đó, hệ thống dịch vụ việc làm ghi nhận 576.471 lượt người được tư vấn, 41.472 người được giới thiệu việc làm và 6.831 người được hỗ trợ học nghề.
Những số liệu này cho thấy quy mô hỗ trợ của chính sách, đồng thời phản ánh nhu cầu tìm kiếm việc làm sau thất nghiệp vẫn đáng kể.
Cần phân biệt số người nộp hồ sơ với số người có quyết định hưởng trợ cấp. Hai chỉ tiêu không nhất thiết trùng nhau trong cùng kỳ thống kê do thời điểm tiếp nhận và giải quyết hồ sơ có thể khác nhau. Tương tự, số lượt được tư vấn không đồng nghĩa với số người đã tìm được việc làm.
Đáng chú ý, 61,2% người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp trong quý IV/2025 không có bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật. Nhóm có trình độ đại học trở lên chiếm 19,2%, cao đẳng chiếm 5,9%.
Tỷ lệ lao động thiếu bằng cấp, chứng chỉ chiếm hơn một nửa số người đề nghị hưởng trợ cấp là vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc. Trong bối cảnh doanh nghiệp đẩy mạnh tự động hóa, chuyển đổi số và thay đổi mô hình sản xuất, nhóm lao động này có thể gặp nhiều trở ngại khi tìm công việc mới, đặc biệt nếu kỹ năng tích lũy không còn đáp ứng yêu cầu tuyển dụng.
Ở phạm vi toàn thị trường, số liệu của Cục Thống kê cho thấy năm 2025, thu nhập bình quân của người lao động đạt 8,4 triệu đồng/tháng, tăng 8,9% so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở mức 2,22%, tỷ lệ thiếu việc làm là 1,65%.
Tuy nhiên, lao động có việc làm phi chính thức vẫn chiếm 63,1% tổng số lao động có việc làm. Điều này phản ánh một thực tế: thị trường lao động nhìn chung ổn định, nhưng không phải mọi người có việc làm đều được bảo vệ đầy đủ trước rủi ro mất thu nhập.
Trên thực tế, tác động của thất nghiệp đối với từng gia đình có thể lớn hơn nhiều so với những gì các chỉ tiêu thống kê thể hiện.
Giả sử một công nhân có mức bình quân tiền lương đóng BHTN là 8 triệu đồng/tháng. Nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện hưởng, mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng tính theo tỷ lệ 60% tương ứng 4,8 triệu đồng.
Số tiền này thấp hơn thu nhập trước khi mất việc, nhưng có thể giúp trang trải một phần chi phí ăn uống, nhà ở và sinh hoạt gia đình. Với người đang nuôi con nhỏ hoặc có người thân phụ thuộc, khoản trợ cấp được giải quyết kịp thời có ý nghĩa đáng kể.
Tuy nhiên, không nên đánh đồng mức trợ cấp với khả năng bảo đảm toàn bộ cuộc sống. Một gia đình có hai con đang đi học, phải thuê nhà và trả nợ hằng tháng vẫn có thể đối mặt với thiếu hụt tài chính, ngay cả khi người lao động được hưởng BHTN.
Điều quan trọng là chính sách giúp giảm mức độ tổn thương trước cú sốc thu nhập, hạn chế nguy cơ người lao động phải vay nợ hoặc chấp nhận ngay một công việc không phù hợp chỉ để có tiền trang trải sinh hoạt.
Từ góc độ kinh tế, khoản trợ cấp còn góp phần duy trì sức mua đối với hàng hóa và dịch vụ thiết yếu. Khi người lao động vẫn có khả năng chi tiêu tối thiểu, các hộ kinh doanh, cửa hàng thực phẩm và dịch vụ quanh khu công nghiệp cũng có thể giảm bớt tác động gián tiếp từ tình trạng mất việc.
Từ ngày 1/1/2026, Luật Việc làm số 74/2025/QH15 và Nghị định 374/2025/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ người lao động khi thất nghiệp.
Một trong những thay đổi đáng chú ý là thời điểm bắt đầu hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày làm việc thứ 11 kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định, thay vì ngày làm việc thứ 16 như trước đây.
Việc rút ngắn thời gian chờ hưởng có ý nghĩa đối với người vừa mất việc, nhất là những trường hợp không có khoản dự phòng tài chính. Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu tính hưởng cần được phân biệt với thời điểm người lao động thực tế nhận được tiền trợ cấp.
Theo quy định mới, mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương của sáu tháng đóng BHTN gần nhất trước khi thất nghiệp, với mức hưởng tối đa không vượt quá năm lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định.
Nghị định 374/2025/NĐ-CP cũng làm rõ cách xác định thời gian đóng BHTN trong một số trường hợp gián đoạn và quy định cụ thể hơn về trách nhiệm giải quyết, chi trả trợ cấp. Những điều chỉnh này nhằm hạn chế vướng mắc trong quá trình thực hiện, bảo đảm quyền lợi của người lao động.
Dù vậy, hiệu quả chính sách không thể chỉ đánh giá bằng việc hồ sơ được giải quyết nhanh hơn hay khoản trợ cấp được chuyển đúng hạn.
Một người lao động nhận trợ cấp trong vài tháng nhưng không tìm được việc mới vẫn có thể tiếp tục rơi vào khó khăn khi hết thời gian hưởng. Ngược lại, nếu được tư vấn nghề nghiệp, bổ sung kỹ năng và kết nối với doanh nghiệp tuyển dụng, họ có cơ hội sớm khôi phục nguồn thu nhập ổn định.
Đây là lý do các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề cần được đặt ở vị trí quan trọng trong thực hiện BHTN.
![]() |
Nhìn vào số liệu quý IV/2025, số người được hỗ trợ học nghề là 6.831, thấp hơn nhiều so với số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp. Dù hai chỉ tiêu phản ánh những nhóm đối tượng và điều kiện tiếp cận khác nhau, khoảng cách này đặt ra yêu cầu tiếp tục đánh giá hiệu quả kết nối giữa hỗ trợ thu nhập với đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp.
Đối với nhóm lao động không có bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật, việc học nghề hoặc nâng cao kỹ năng có thể là điều kiện quan trọng để thích ứng với thị trường. Song, chương trình đào tạo chỉ thực sự có giá trị khi gắn với nhu cầu tuyển dụng, giúp người lao động có cơ hội tìm được việc làm sau khóa học.
Về phía doanh nghiệp, tham gia BHTN đầy đủ, đúng quy định không chỉ là thực hiện nghĩa vụ pháp lý mà còn góp phần bảo vệ người lao động trước biến động sản xuất, kinh doanh. Khi doanh nghiệp thu hẹp đơn hàng hoặc thay đổi công nghệ, cơ chế bảo hiểm giúp giảm một phần áp lực tài chính đối với những người phải rời khỏi vị trí làm việc.
Đối với cơ quan quản lý, dữ liệu về người đề nghị hưởng trợ cấp, nhóm ngành nghề và trình độ chuyên môn còn là nguồn thông tin có giá trị để nhận diện biến động lao động. Nếu được kết nối với dữ liệu tuyển dụng, những thông tin này có thể hỗ trợ xây dựng chính sách đào tạo và giải quyết việc làm phù hợp hơn.
Tuy nhiên, BHTN không thể thay thế trách nhiệm tạo việc làm của nền kinh tế, cũng không bao phủ toàn bộ người thất nghiệp. Hiệu quả chính sách phụ thuộc vào mức độ tham gia, chất lượng dịch vụ việc làm và khả năng phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo.
Một chính sách BHTN hiệu quả vì thế không chỉ được đo bằng số tiền đã chi trả, mà còn ở khả năng giúp người lao động ổn định cuộc sống và sớm trở lại thị trường lao động.
Khi một người mất việc, điều họ cần không chỉ là khoản tiền đủ trang trải vài tháng trước mắt, mà còn là cơ hội tiếp tục làm việc và tự bảo đảm cuộc sống lâu dài. BHTN phát huy đầy đủ giá trị nhân văn khi thực hiện được cả hai mục tiêu ấy.