![]() |
Thất nghiệp không chỉ làm giảm thu nhập của người lao động mà còn tác động đến sức mua, doanh thu của các hộ kinh doanh và dịch vụ quanh khu công nghiệp. Số liệu quý IV/2025 cho thấy, dù thị trường lao động phục hồi, bảo hiểm thất nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc hạn chế tác động dây chuyền của những cú sốc việc làm.
Một công nhân mất việc có thể ngừng ăn sáng ngoài hàng, giảm mua sắm, hoãn sửa xe hoặc chuyển sang phòng trọ rẻ hơn. Với gia đình, đó là cách cân đối chi tiêu khi tiền lương bị cắt đứt. Nhưng với người bán hàng, chủ nhà trọ hay cơ sở dịch vụ, mỗi khoản chi bị cắt giảm lại đồng nghĩa một phần doanh thu biến mất.
Khi hàng trăm lao động trong cùng khu công nghiệp rơi vào hoàn cảnh tương tự, tác động không còn dừng ở từng hộ gia đình. Sức mua suy giảm có thể lan sang hoạt động thương mại, dịch vụ và sinh kế của những người vốn không trực tiếp làm việc trong nhà máy.
Đây là khía cạnh kinh tế đáng chú ý của bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Khoản trợ cấp được chi trả trực tiếp cho người lao động, nhưng khả năng duy trì một phần chi tiêu thiết yếu có thể giúp hạn chế sự suy giảm nhu cầu tại địa phương.
Các khu công nghiệp thường hình thành một hệ sinh thái kinh tế phụ thuộc vào tiền lương công nhân. Bên ngoài cổng nhà máy là hàng quán, chợ dân sinh, nhà trọ, cửa hàng tạp hóa, dịch vụ vận tải và những cơ sở kinh doanh nhỏ.
Mối quan hệ giữa nhà máy và khu vực dịch vụ không chỉ nằm ở vị trí địa lý. Thu nhập của người lao động chính là nguồn cầu thường xuyên đối với nhiều hộ kinh doanh xung quanh.
Khi doanh nghiệp giảm đơn hàng, thu hẹp sản xuất hoặc cắt giảm nhân sự, cú sốc đầu tiên xuất hiện ở thu nhập của người lao động. Sau đó, tác động chuyển sang thị trường hàng hóa, dịch vụ thông qua việc thắt chặt chi tiêu.
Trong kinh tế học, đây là cơ chế truyền dẫn từ cú sốc thu nhập sang tổng cầu. Khi khả năng chi tiêu của một nhóm dân cư giảm, doanh thu của những đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhóm đó cũng có thể suy giảm. Nếu các cơ sở kinh doanh tiếp tục giảm nhập hàng, hạn chế thuê lao động hoặc thu hẹp hoạt động, tác động ban đầu có thể lan rộng hơn.
Mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào cơ cấu chi tiêu. Thực phẩm, tiền thuê nhà và điện nước là những khoản khó cắt giảm ngay, trong khi ăn uống ngoài gia đình, mua sắm quần áo, giải trí hoặc dịch vụ không thiết yếu thường được điều chỉnh trước.
Bức tranh lao động cuối năm 2025 cho thấy nền kinh tế đang phục hồi, nhưng rủi ro mất việc vẫn hiện hữu.
Theo Cục Thống kê, quý IV/2025, cả nước có khoảng 52,7 triệu người có việc làm, tăng 477.500 người so với quý trước. Thu nhập bình quân của người lao động đạt 8,7 triệu đồng/tháng, tăng 508.000 đồng so với cùng kỳ năm 2024.
Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động vẫn ở mức 2,22%, còn tỷ lệ thiếu việc làm là 1,67%, tăng 0,17 điểm phần trăm so với quý III/2025. Tính chung cả năm, tỷ lệ thất nghiệp là 2,22%, tỷ lệ thiếu việc làm 1,65%.
Những con số này phản ánh sự phục hồi của thị trường lao động ở phạm vi toàn nền kinh tế, nhưng không có nghĩa mọi ngành nghề, địa phương đều ổn định như nhau.
Một doanh nghiệp có thể tăng năng suất nhờ đầu tư dây chuyền tự động, đồng thời giảm nhu cầu đối với lao động giản đơn. Một ngành có thể thiếu nhân lực kỹ thuật trong khi ngành khác phải cắt giảm lao động do đơn hàng suy yếu.
Vì vậy, tỷ lệ thất nghiệp toàn quốc tương đối thấp không loại trừ khả năng xuất hiện những cú sốc việc làm tập trung tại một số khu công nghiệp.
Đáng chú ý, Bản tin Thị trường lao động Việt Nam quý IV/2025, công bố ngày 26/1/2026, ghi nhận 166.277 người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm khoảng 54.200 người so với quý trước.
Trong cùng kỳ, 178.667 người được ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp. Số quyết định hưởng có thể cao hơn số hồ sơ tiếp nhận trong quý do thời điểm nộp và giải quyết không trùng nhau.
Việc số hồ sơ giảm là tín hiệu tích cực, nhưng gần 179.000 quyết định hưởng trong một quý vẫn cho thấy nhu cầu hỗ trợ thu nhập sau mất việc đáng kể.
Nếu chỉ nhìn vào số người hưởng trợ cấp, có thể chưa thấy hết tác động kinh tế của thất nghiệp. Đằng sau mỗi người lao động là một gia đình với các khoản chi thường xuyên và mạng lưới hàng hóa, dịch vụ phụ thuộc vào khả năng thanh toán của họ.
Một gia đình mất một nguồn lương có thể chưa ngừng mua thực phẩm, nhưng sẽ cân nhắc từng khoản chi không bắt buộc. Khi nhiều gia đình cùng hành động như vậy, những hộ kinh doanh nhỏ với biên lợi nhuận mỏng sẽ chịu sức ép trước tiên.
Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, BHTN có đặc điểm của một cơ chế ổn định tự động: khi người lao động đủ điều kiện bị mất việc, chính sách hỗ trợ một phần thu nhập mà không cần chờ ban hành một chương trình hỗ trợ riêng cho từng đợt biến động.
Điểm khác biệt nằm ở thời điểm hỗ trợ. Khoản trợ cấp xuất hiện đúng giai đoạn thu nhập từ việc làm bị gián đoạn, giúp giảm mức sụt giảm khả năng chi tiêu của người thụ hưởng.
Theo Luật Việc làm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của sáu tháng đóng gần nhất trước khi chấm dứt việc làm, không vượt quá mức trần theo quy định.
Chẳng hạn, người lao động có mức bình quân tiền lương đóng BHTN là 9 triệu đồng/tháng, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện hưởng, có thể nhận trợ cấp 5,4 triệu đồng/tháng.
![]() |
Đây không phải khoản thu nhập đủ thay thế toàn bộ tiền lương trước khi mất việc. Tuy nhiên, nó có thể giúp người lao động duy trì tiền thuê nhà, thực phẩm và những nhu cầu thiết yếu trong thời gian tìm kiếm công việc mới.
Xét về kinh tế học, hiệu quả ổn định tiêu dùng còn liên quan đến khuynh hướng tiêu dùng cận biên – tỷ lệ thu nhập tăng thêm được sử dụng cho chi tiêu.
Những hộ gia đình có tích lũy thấp thường phải dành phần lớn thu nhập cho nhu cầu thiết yếu. Vì vậy, khoản hỗ trợ đến đúng thời điểm khó khăn có khả năng được đưa trở lại nền kinh tế thông qua mua sắm hàng hóa, dịch vụ.
Tuy nhiên, không thể mặc nhiên kết luận mỗi đồng trợ cấp tạo ra một đồng tiêu dùng mới. Người lao động có thể sử dụng tiền để trả nợ, dự phòng rủi ro hoặc thay thế khoản thu nhập đã mất. Tác động thực tế phụ thuộc vào mức trợ cấp, thời gian hưởng, hoàn cảnh gia đình và điều kiện kinh tế địa phương.
Đối với các hộ kinh doanh quanh khu công nghiệp, BHTN không phải nguồn hỗ trợ trực tiếp. Nhưng khi công nhân vẫn duy trì được một phần chi tiêu, những cơ sở cung cấp hàng hóa thiết yếu có thể giảm bớt mức suy giảm doanh thu.
Cơ chế này cũng có giới hạn. Nếu doanh nghiệp đóng cửa kéo dài, người lao động không tìm được việc mới hoặc thời gian hưởng trợ cấp kết thúc, khả năng duy trì tiêu dùng sẽ tiếp tục chịu áp lực.
Bởi vậy, chính sách BHTN chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi được kết nối với tư vấn, giới thiệu việc làm và đào tạo nghề.
Theo Bản tin Thị trường lao động Việt Nam quý IV/2025, hệ thống dịch vụ việc làm ghi nhận 576.471 lượt người được tư vấn, 41.472 người được giới thiệu việc làm và 6.831 người được hỗ trợ học nghề. Các chỉ tiêu này phản ánh những hoạt động hỗ trợ khác nhau, không đồng nghĩa toàn bộ người được giới thiệu đã có việc làm.
Từ góc độ chính sách, những con số đặt ra yêu cầu đánh giá không chỉ số tiền trợ cấp đã chi, mà còn khả năng rút ngắn thời gian thất nghiệp và giúp người lao động khôi phục thu nhập.
Đây cũng là vấn đề cần quan tâm khi Luật Việc làm 2025 mở rộng diện tham gia BHTN đối với một số nhóm lao động theo hợp đồng, trong đó có những trường hợp làm việc theo hợp đồng từ đủ một tháng theo điều kiện luật định.
Việc mở rộng phạm vi tham gia góp phần tăng khả năng bảo vệ người lao động trước biến động việc làm. Tuy nhiên, những người làm việc phi chính thức, không thuộc diện tham gia hoặc không đáp ứng điều kiện hưởng vẫn có thể đứng ngoài cơ chế này.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là các đơn vị kinh doanh thương mại, dịch vụ quanh khu công nghiệp, ổn định thu nhập của người lao động có ý nghĩa thực tế đối với khả năng duy trì khách hàng.
Song, muốn đánh giá đầy đủ tác động lan tỏa của BHTN, cần có dữ liệu cụ thể hơn về cơ cấu chi tiêu của người thất nghiệp, thời gian khôi phục việc làm và biến động doanh thu tại những khu vực tập trung lao động.
Chỉ số thất nghiệp toàn quốc không đủ phản ánh mức độ tổn thương của từng địa phương. Một khu công nghiệp có nhiều doanh nghiệp đồng loạt giảm lao động có thể tạo ra cú sốc tiêu dùng đáng kể, ngay cả khi tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước không biến động lớn.
Vì vậy, dữ liệu BHTN cần được kết nối với thông tin tuyển dụng, tình hình sản xuất của doanh nghiệp và diễn biến kinh doanh tại địa phương. Khi nhận diện sớm khu vực có nguy cơ giảm việc làm, cơ quan quản lý có thể chủ động triển khai hoạt động tư vấn, đào tạo và kết nối tuyển dụng, thay vì chỉ xử lý hồ sơ sau khi người lao động đã mất việc.
BHTN không thể thay thế tăng trưởng kinh tế, cũng không đủ sức duy trì sức mua nếu thất nghiệp kéo dài trên diện rộng. Nhưng chính sách giúp làm dịu cú sốc thu nhập trong giai đoạn chuyển tiếp, hạn chế phần nào tác động dây chuyền đến hoạt động thương mại và dịch vụ.
Một công nhân mất việc có thể là câu chuyện của một gia đình. Hàng nghìn công nhân mất việc cùng lúc lại trở thành vấn đề của cả thị trường địa phương. Giá trị kinh tế của BHTN nằm ở khả năng giảm bớt khoảng cách giữa hai trạng thái ấy, trong khi người lao động tìm đường trở lại sản xuất.