Đối với một tỉnh miền núi như Lào Cai, rừng không đơn thuần là tài nguyên thiên nhiên mà còn là hệ thống bảo vệ tự nhiên trước những tác động bất lợi của thời tiết và biến đổi khí hậu. Khả năng giữ nước, giữ đất, điều tiết dòng chảy, hạn chế xói mòn và sạt lở của rừng có ý nghĩa trực tiếp đối với đời sống dân cư, sản xuất nông nghiệp và kết cấu hạ tầng.
Thực hiện Quyết định số 171/QĐ-TTg ngày 7/2/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng rừng nhằm bảo tồn hệ sinh thái rừng và phòng, chống thiên tai đến năm 2030, Lào Cai đã cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, tập trung rà soát diện tích, xác định khu vực ưu tiên và lựa chọn giải pháp phục hồi phù hợp.
Theo kế hoạch, toàn tỉnh Lào Cai có 27.642,44 ha rừng cần nâng cao chất lượng. Trong đó, rừng sản xuất chiếm 16.238,59 ha, rừng phòng hộ 10.635,52 ha và rừng đặc dụng 768,33 ha.
Cơ cấu này cho thấy nhiệm vụ nâng cao chất lượng rừng có phạm vi rộng, không chỉ giới hạn ở những khu vực bảo tồn mà còn gắn với việc cải thiện chất lượng rừng sản xuất. Đây là cách tiếp cận có ý nghĩa lâu dài, bởi rừng vừa thực hiện chức năng sinh thái, vừa tạo nguồn nguyên liệu, sản phẩm và thu nhập cho người dân.
Ba nhóm giải pháp kỹ thuật được xác định gồm khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung và làm giàu rừng tự nhiên. Tùy hiện trạng từng khu vực, các biện pháp được lựa chọn nhằm phục hồi thảm thực vật, bổ sung cây bản địa, cải thiện cấu trúc tầng tán và tăng khả năng tái sinh.
Điều cần quan tâm là chất lượng rừng không thể chỉ đánh giá bằng tỷ lệ che phủ hay diện tích được thống kê. Một khu rừng có giá trị sinh thái cao còn phải bảo đảm thành phần loài, cấu trúc nhiều tầng, khả năng tái sinh và tính ổn định của hệ sinh thái. Đặc biệt, tại các khu vực đầu nguồn, rừng phòng hộ có vai trò quan trọng trong việc hạn chế dòng chảy mặt, giữ đất và giảm nguy cơ sạt lở.
Vì vậy, ưu tiên phục hồi đúng loại rừng, đúng điều kiện sinh thái và đúng khu vực có nguy cơ thiên tai cao sẽ quyết định hiệu quả thực chất của Đề án.
![]() |
| Ưu tiên nguồn lực cho những khu vực rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất và những diện tích rừng tự nhiên đang suy giảm chất lượng. |
Một chuyển biến đáng chú ý trong phát triển lâm nghiệp của Lào Cai là việc gắn bảo vệ rừng với tiêu chuẩn sản xuất, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu của thị trường.
Theo số liệu của ngành chức năng, diện tích rừng trồng được cấp chứng chỉ rừng và diện tích quế được chứng nhận hữu cơ đạt tổng cộng 36.478,7 ha. Trong đó, quế hữu cơ đạt 24.241,5 ha tại 18 xã; diện tích được cấp chứng chỉ rừng đạt 12.237,2 ha tại 11 xã, phường.
Bên cạnh đó, 8.177,66 ha rừng trồng đã được cấp giấy xác nhận mã số vùng trồng rừng nguyên liệu, với khoảng 8.857 mã số tại 8 xã, phường.
Những con số này phản ánh sự thay đổi trong tư duy sản xuất lâm nghiệp. Thay vì chỉ chú trọng diện tích và sản lượng khai thác, các chủ rừng, hợp tác xã và người sản xuất đang từng bước quan tâm đến chất lượng, quy trình canh tác, tính hợp pháp và khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Đối với ngành hàng quế, chứng nhận hữu cơ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao uy tín sản phẩm, tạo điều kiện tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao về chất lượng và quy trình sản xuất. Khi vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, doanh nghiệp có thêm cơ sở để xây dựng chuỗi cung ứng ổn định, phát triển chế biến sâu và nâng giá trị sản phẩm.
Tương tự, chứng chỉ rừng và mã số vùng trồng nguyên liệu góp phần xác lập trách nhiệm quản lý, nguồn gốc và tính bền vững của sản phẩm lâm nghiệp. Đây là những yếu tố ngày càng quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu, nhất là khi các thị trường quốc tế tăng cường yêu cầu về nguồn gốc hợp pháp và trách nhiệm môi trường.
Tuy nhiên, giá trị kinh tế từ rừng không chỉ được đo bằng diện tích được chứng nhận. Điều quan trọng hơn là chứng nhận phải chuyển hóa thành lợi thế thương mại, giúp người trồng rừng cải thiện giá bán, doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu và các hợp tác xã có thêm cơ hội tham gia chuỗi giá trị.
Để đạt được điều đó, cần tăng cường liên kết giữa người trồng rừng, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và đơn vị tiêu thụ. Khi người dân có đầu ra ổn định, lợi ích kinh tế gắn trực tiếp với việc duy trì rừng và thực hiện quy trình sản xuất bền vững, công tác bảo vệ tài nguyên sẽ có thêm nền tảng xã hội vững chắc.
Với diện tích rừng cần bảo vệ và phát triển bền vững lên tới 865.059,85 ha, công tác quản lý rừng tại Lào Cai đặt ra yêu cầu lớn về nhân lực, phương tiện và phương thức giám sát.
Trong đó, diện tích có rừng trong quy hoạch lâm nghiệp là 818.520,24 ha, gồm 92.616,89 ha rừng đặc dụng, 289.200,55 ha rừng phòng hộ và 436.702,8 ha rừng sản xuất. Ngoài ra, diện tích rừng ngoài đất lâm nghiệp được thống kê là 46.539,57 ha.
Địa hình phức tạp, nhiều khu vực rừng nằm xa khu dân cư, giao thông khó khăn khiến phương thức tuần tra trực tiếp gặp không ít hạn chế. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu viễn thám và thiết bị giám sát đang trở thành công cụ hỗ trợ quan trọng.
Hiện các đơn vị chức năng duy trì, nâng cấp phần mềm phát hiện sớm điểm nghi cháy rừng, hệ thống cảnh báo giám sát rừng và tự động phát hiện mất rừng. Cùng với đó, thiết bị bay không người lái, máy bơm nước áp lực lớn và máy thổi lửa được đưa vào phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Việc kết hợp công nghệ với lực lượng kiểm lâm và chủ rừng giúp mở rộng phạm vi giám sát, phát hiện sớm những biến động bất thường, xác định khu vực có nguy cơ cháy hoặc mất rừng để kiểm tra, xử lý kịp thời.
Một nhiệm vụ khác có ý nghĩa nền tảng là xác định rõ chủ thể quản lý và trách nhiệm đối với từng diện tích rừng. Đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức đo đạc, quy chủ 676,6 nghìn ha; đang thực hiện đo đạc, lập hồ sơ địa chính 107,1 nghìn ha. Diện tích đã giao đất, giao rừng đạt 279.918,9 ha.
Đặc biệt, toàn tỉnh có 15 chủ rừng là tổ chức được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững. Các chủ rừng tiếp tục rà soát, cập nhật phương án theo quy định tại Thông tư số 16/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Việc xác định rõ ranh giới, chủ thể và quyền quản lý không chỉ giúp nâng cao hiệu quả giám sát mà còn tạo cơ sở để gắn trách nhiệm bảo vệ rừng với quyền lợi của tổ chức, hộ gia đình và cộng đồng dân cư.
![]() |
| Lào Cai nâng chất lượng rừng: Giữ an toàn sinh thái, gia tăng giá trị kinh tế lâm nghiệp. |
Dù đã đạt được những kết quả nhất định, quá trình nâng cao chất lượng rừng tại Lào Cai vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, việc thay đổi địa giới và chủ thể quản lý khiến một số chỉ tiêu phải rà soát, điều chỉnh. Một số diện tích rừng do UBND cấp xã quản lý chưa được giao cho chủ rừng nên chưa đủ điều kiện triển khai chính sách hỗ trợ.
Nguồn lực tài chính cũng là vấn đề đáng quan tâm. Nhu cầu kinh phí phục hồi, khoanh nuôi và làm giàu rừng lớn, trong khi chưa có nguồn vốn Trung ương riêng cho Đề án. Việc lồng ghép kinh phí từ các chương trình, dự án còn phụ thuộc vào kế hoạch vốn từng chương trình.
Bên cạnh đó, nguồn giống một số loài cây bản địa, cây quý hiếm như pơ mu, giổi xanh, re hương còn hạn chế. Việc chưa có hướng dẫn kỹ thuật thống nhất về làm giàu rừng bằng cây bản địa cũng ảnh hưởng đến lựa chọn loài cây, mật độ trồng và phương thức chăm sóc.
Để giải quyết những khó khăn này, Lào Cai cần tiếp tục rà soát diện tích, hoàn thiện hồ sơ địa chính, đẩy nhanh giao đất, giao rừng và xác định rõ trách nhiệm quản lý tại cơ sở. Nguồn lực nên được ưu tiên cho rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở và những diện tích rừng tự nhiên suy giảm chất lượng.
Cùng với ngân sách nhà nước, việc huy động nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng, nghiên cứu phát triển dịch vụ các-bon và khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư vào kinh tế lâm nghiệp sẽ góp phần đa dạng hóa nguồn lực bảo vệ rừng.
Đặc biệt, cần nghiên cứu, xây dựng các mô hình rừng nhiều tầng, nhiều loài, kết hợp cây bản địa với cây có giá trị kinh tế phù hợp. Các mô hình dự kiến được nghiên cứu, đánh giá trong giai đoạn 2027–2028 sẽ là cơ sở quan trọng để lựa chọn phương thức phục hồi và nhân rộng trên những địa bàn có điều kiện tương đồng.
Về lâu dài, hiệu quả của công tác nâng cao chất lượng rừng cần được nhìn nhận trên cả ba phương diện: hệ sinh thái được phục hồi, nguy cơ thiên tai được hạn chế và sinh kế người dân được cải thiện. Trong đó, người dân phải thực sự trở thành chủ thể tham gia bảo vệ, phát triển và hưởng lợi từ tài nguyên rừng.
Nâng cao chất lượng rừng vì thế không chỉ là nhiệm vụ của ngành lâm nghiệp mà còn là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xanh của Lào Cai. Khi mỗi cánh rừng vừa được bảo vệ tốt hơn, vừa tạo ra giá trị kinh tế hợp pháp và bền vững, công tác bảo tồn sẽ có thêm nguồn lực, còn người dân có thêm động lực gắn bó lâu dài với rừng. Đó chính là nền tảng để bảo đảm an toàn sinh thái, giảm thiểu rủi ro thiên tai và phát triển kinh tế lâm nghiệp hài hòa với thiên nhiên.
