Sáng 4/11, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Bắc Ninh phối hợp với Cục Công nghiệp công nghệ thông tin (Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức hội thảo tuyên truyền, phổ biến chính sách về công nghiệp công nghệ số và hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ lãi suất từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF).
![]() |
| Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Bắc Ninh Nguyễn Gia Phong phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: Huyền Thương) |
Theo ông Nguyễn Gia Phong, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Bắc Ninh hiện có nhiều lợi thế để phát triển công nghiệp công nghệ số. Hệ thống hạ tầng công nghiệp được quy hoạch gồm 72 khu công nghiệp, tổng diện tích gần 21.519 ha, cùng khoảng 1.282 doanh nghiệp điện tử.
Đáng chú ý, đến năm 2026, lĩnh vực bán dẫn và công nghiệp phụ trợ bán dẫn đã thu hút 33 dự án, với tổng vốn đăng ký hơn 2,7 tỷ USD. Trong đó, Amkor Technology có vốn đầu tư 1,6 tỷ USD, Hana Micron Vina có vốn đầu tư 669 triệu USD.
Những con số này cho thấy sức hấp dẫn của Bắc Ninh đối với dòng vốn đầu tư công nghệ cao. Tuy nhiên, quy mô vốn đầu tư và số lượng dự án mới chỉ phản ánh một phần năng lực công nghiệp. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng hình thành mạng lưới doanh nghiệp cung ứng trong nước, phát triển đội ngũ kỹ sư, làm chủ quy trình sản xuất và từng bước tham gia vào các công đoạn có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với quá trình chuyển dịch mô hình tăng trưởng của địa phương. Nếu doanh nghiệp trong nước chỉ tham gia những khâu gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp, cơ hội từ sự phát triển của ngành điện tử và bán dẫn sẽ chưa được khai thác tương xứng.
Vì vậy, việc nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới thiết bị, chuẩn hóa quy trình sản xuất, phát triển công nghệ lõi và đào tạo nhân lực chất lượng cao cần được đặt trong chiến lược phát triển công nghiệp dài hạn.
Thời gian qua, Bắc Ninh chú trọng cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh thông qua các chính sách hỗ trợ đào tạo nhân lực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghiệp số; giảm tiền thuê lại đất cho doanh nghiệp; triển khai các mô hình "Luồng xanh 24 giờ", "Luồng xanh 60%" nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục cho nhà đầu tư.
Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng tiếp cận công nghệ mới vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn vốn, nhân lực và năng lực quản trị. Không ít doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới dây chuyền, tự động hóa sản xuất, ứng dụng AI hoặc đầu tư hệ thống quản trị dữ liệu nhưng còn cân nhắc trước áp lực chi phí và thời gian thu hồi vốn.
Bởi vậy, việc phổ biến chính sách về công nghiệp công nghệ số gắn với hướng dẫn tiếp cận nguồn vốn từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia có ý nghĩa thiết thực. Đây không chỉ là hoạt động cung cấp thông tin pháp lý mà còn là cầu nối giữa chính sách của Nhà nước với nhu cầu đầu tư, đổi mới công nghệ trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Tại hội thảo, các đại biểu được phổ biến những nội dung trọng tâm của Luật Công nghiệp công nghệ số và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó có quy định về phát triển nhân lực công nghệ số theo Nghị định số 353/2025/NĐ-CP.
Đại diện Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia giới thiệu điều kiện, quy trình và hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ vay vốn, giúp doanh nghiệp nắm bắt cơ hội tiếp cận nguồn lực phục vụ ứng dụng, đổi mới và làm chủ công nghệ.
Bên cạnh đó, các chuyên gia đến từ MedCAT, Tập đoàn Công nghệ CMC và LuatVietnam chia sẻ giải pháp chuẩn hóa dữ liệu, ứng dụng AI trong hỗ trợ công vụ, quản lý và thực thi các quy định pháp luật.
Những nội dung trao đổi cho thấy đổi mới công nghệ không chỉ là câu chuyện đầu tư máy móc, thiết bị. Đó còn là quá trình thay đổi phương thức quản trị, tổ chức sản xuất, khai thác dữ liệu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Doanh nghiệp muốn nâng cao năng suất và sức cạnh tranh cần xem công nghệ là một phần trong chiến lược phát triển, thay vì chỉ đầu tư khi xuất hiện yêu cầu trước mắt.
![]() |
| Các đại biểu tham dự hội thảo. (Ảnh: Huyền Thương) |
Một trong những vấn đề đáng quan tâm sau hội thảo là làm thế nào để doanh nghiệp thực sự tiếp cận và sử dụng hiệu quả các chính sách hỗ trợ. Với doanh nghiệp lớn, việc đầu tư nghiên cứu, phát triển công nghệ có thể được triển khai thông qua nguồn lực nội bộ hoặc hợp tác với các đối tác quốc tế. Nhưng với doanh nghiệp nhỏ và vừa, mỗi khoản đầu tư cho thiết bị, phần mềm, tự động hóa hay chuyển đổi số đều cần được tính toán kỹ về hiệu quả kinh tế.
Do đó, khả năng tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ lãi suất cần đi cùng hướng dẫn cụ thể về điều kiện thụ hưởng, phương án sử dụng vốn, quy trình lập hồ sơ và trách nhiệm của doanh nghiệp. Khi thủ tục được giải thích rõ ràng, doanh nghiệp xác định được nhu cầu đầu tư và xây dựng phương án khả thi, chính sách mới có thể chuyển hóa thành năng lực sản xuất thực tế.
Một hướng đi quan trọng khác là tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học, cơ sở đào tạo và các tập đoàn công nghệ. Sự liên kết này giúp doanh nghiệp tiếp cận tri thức, công nghệ, nhân lực chuyên môn; đồng thời tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh.
Ngay sau hội thảo, Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Ninh cho biết sẽ tiếp tục kết nối, tham mưu và phối hợp với các cơ quan Trung ương, đơn vị liên quan trong triển khai chính sách; hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, nâng cao năng lực nghiên cứu, đổi mới công nghệ và sức cạnh tranh.
Về dài hạn, hiệu quả phát triển công nghiệp công nghệ số không chỉ được đo bằng số lượng dự án hay tổng vốn đầu tư thu hút được, mà còn phải thể hiện qua năng lực của doanh nghiệp nội địa, tỷ lệ tham gia chuỗi cung ứng, chất lượng việc làm và giá trị gia tăng tạo ra tại địa phương.
Khi chính sách đến đúng đối tượng, nguồn vốn được khơi thông và liên kết nghiên cứu - đào tạo - sản xuất được củng cố, Bắc Ninh sẽ có thêm điều kiện để chuyển hóa lợi thế công nghiệp điện tử thành năng lực phát triển công nghệ cao bền vững.
