Thứ hai 02/02/2026 19:34
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Khủng hoảng thất nghiệp

12/10/2020 00:00
(TBKTSG) - Thứ Ba tuần trước (7-7-2020), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) công bố báo cáo Triển vọng việc làm 2020, nhấn mạnh cuộc khủng hoảng về sức khỏe do dịch Covid-19 đã tạo ra một cuộc khủng hoảng việc làm.

Ngành dệt may - một trong những ngành hiện đang có tỷ lệ người lao động bị mất việc cao. Ảnh: THÀNH HOA

Những hệ lụy nguy hiểm từ thất nghiệp

Khủng hoảng việc làm hiện nay bỏ xa các đợt khủng hoảng khác kể từ cuộc đại suy thoái năm 1930. Đến cuối tháng 5, tỷ lệ thất nghiệp của OECD là 8,4% với 54,4 triệu lao động. Theo ước tính của tổ chức này, tỷ lệ thất nghiệp của các nước thành viên đến cuối năm nay vào khoảng 9,4%, và dự kiến không thể phục hồi trước năm 2021 trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự báo giảm 6% năm nay. Ở nhiều nước, số giờ làm việc giảm gấp 10 lần so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Nhưng mức độ bị ảnh hưởng của các nhóm lao động trong cùng một nền kinh tế là khác nhau. Bị ảnh hưởng nặng nề nhất là nhóm lao động trẻ, phụ nữ, những nhóm công việc được trả lương thấp, công việc tạm thời hay tự kinh doanh. Trong giai đoạn giãn cách xã hội, những lao động có thu nhập thấp có rủi ro bị mất việc làm gấp 2 lần so với đồng nghiệp có thu nhập cao. Ngoài ra, nhóm lao động có thu nhập cao thì có nhiều khả năng được làm việc tại nhà hơn là lao động có thu nhập thấp vì tính chất công việc của họ có thể làm được qua Internet.

Đã có rất nhiều nghiên cứu về hệ lụy của thất nghiệp, trong đó có hai hệ lụy chính là đói nghèo và sức khỏe. Rơi vào ngưỡng đói nghèo có thể dễ hình dung đối với những lao động có thu nhập thấp, sẽ nghiêm trọng hơn ở những nơi chế độ bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội chưa đủ đảm bảo. Khi bị rơi vào tình trạng thất nghiệp, các chế độ liên quan đến bảo hiểm y tế cũng bị giảm hoặc cắt, do đó người lao động phải chi trả thêm từ tiền túi của mình nếu không may bị bệnh tật.

Tuy vậy, khả năng rơi vào diện nghèo cũng dễ xảy ra đối với một số lao động có thu nhập cao khi bị thất nghiệp. Đó là vì những người này không có tích lũy dự phòng rủi ro, chi tiêu chủ yếu dựa vào tín dụng trên mức lương hiện tại của mình. Có những người vay mua nhà vượt quá nhu cầu và khả năng tài chính của mình, thường xuyên thay đổi xe, có các chuyến du lịch xa xỉ, dùng nhiều đồ hiệu trong khi các khoản chi này đều dựa vào tín dụng. Khi thất nghiệp ập đến, thu nhập giảm mạnh đột ngột nhưng các khoản nợ định kỳ vẫn phải trả, sẽ dẫn đến túng quẫn như một số trường hợp làm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở cuộc khủng hoảng năm 2008.

Hệ lụy thứ hai không kém phần quan trọng là sức khỏe, cả về thể chất lẫn tinh thần. Tâm lý chung của người bị thất nghiệp là chán nản, căng thẳng, có thể chuyển sang trầm cảm. Những người này cũng có xu hướng gia tăng sử dụng các chất gây nghiện như thuốc lá, thức uống có cồn, hay thậm chí ma túy. Ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp tốt, các chế độ an sinh xã hội hỗ trợ cho người lao động thì sang chấn tâm lý của người bị thất nghiệp là rất lớn vì cảm thấy mình là người thất bại, trở thành gánh nặng của xã hội.

Vai trò của bảo hiểm

Trong số các nước có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội tốt nhất, có thể kể đến nước Pháp. Ở đây, người lao động bị thất nghiệp được hưởng trợ cấp trung bình 79% đối với thu nhập thấp và 64% đối với thu nhập cao, trong khoảng thời gian 24-36 tháng. Với mức trợ cấp này, người lao động vẫn có thể đảm bảo các nhu cầu chi tiêu tối thiểu, nhưng ảnh hưởng về sức khỏe và tâm lý là không thể tránh được.

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người

Để giảm thiểu hệ lụy của thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp là một công cụ hữu hiệu mà hầu hết các chính phủ đều triển khai để bảo vệ người lao động. Nhưng cách vận hành ở mỗi nước là khác nhau, thậm chí khác nhau giữa các bang trong cùng một nước có thể chế liên bang.

Sự khác nhau về quyền lợi của người lao động thất nghiệp được xác định ở ba yếu tố: tỷ lệ được hưởng so với mức thu nhập trước đó, thời gian được hưởng, và các hỗ trợ tìm việc làm mới. Các nước thường quy định tỷ lệ hưởng ở mức 60-80%, có nước quy định thu nhập cao thì tỷ lệ hưởng thấp hơn để thực hiện chức năng điều tiết. Thời gian được hưởng có thể dao động từ trung bình sáu tháng như ở Mỹ (tùy theo bang), lên đến 24 tháng như ở Pháp, có nước cho gia hạn thêm một thời gian nhưng người lao động phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Cuối cùng là hỗ trợ tìm việc làm mới, cũng với các chính sách và cách thức tổ chức khác nhau.

Ở Việt Nam thì sao?

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người, phần lớn bị giảm thu nhập do giảm giờ làm hoặc bị thất nghiệp. Theo quy định hiện nay, người lao động ở Việt Nam được hưởng tối đa 12 tháng trợ cấp thất nghiệp, với mức hưởng 60% bình quân lương sáu tháng trước đó, và tối đa là 5 lần lương tối thiểu vùng.

Nhưng thu nhập thực tế của rất nhiều người lao động lại không giống như bảng lương để tính bảo hiểm xã hội, vì có nhiều khoản hỗ trợ hay thu nhập tăng thêm được hạch toán để né không tính vào thu nhập đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Lúc này, phần thiệt của người lao động mới thấy được rõ.

Một vấn đề khác của người lao động Việt Nam là tỷ lệ lao động phi chính thức còn rất cao, đến cuối năm 2019 là 54,6% và hầu hết các lao động này không có bảo hiểm xã hội bắt buộc, nghĩa là không có bảo hiểm thất nghiệp.

Như vậy có thể thấy, một phần lớn lao động thất nghiệp do dịch Covid-19 ở Việt Nam sẽ không có trợ cấp thất nghiệp, số có được trợ cấp thì trợ cấp nhận được cũng chênh lệch khá nhiều so với thu nhập thực tế trước đó. Tình cảnh sẽ càng khó khăn hơn đối với các lao động di cư, vì các chi phí nhà ở, ăn uống dù ở mức tối thiểu nhất cũng là một gánh nặng lớn đối với họ.

Mặc dù sự hỗ trợ của gia đình, người thân, bạn bè là một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam trong lúc khó khăn, nhưng người lao động cần chú ý hơn đến việc tích cốc phòng cơ, trích dành một phần thu nhập khi đang có việc làm vào một quỹ dự phòng, thường cần đủ cho sáu tháng đến một năm. Quan trọng hơn, cần biết và đấu tranh cho quyền lợi của mình trong việc thực hiện hợp đồng lao động, đưa hết các thu nhập vào chính thức để tính đóng bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, cũng cần luôn trau dồi, học thêm những kiến thức cũng như kỹ năng mới, để có khi cần thiết cho việc chuyển đổi sang công việc khác

TS. Võ Đình Trí

Tin bài khác
Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Trần Duy Đông: Tăng trưởng GRDP của Phú Thọ 2025 đạt 10,52%, thuộc nhóm cao nhất nước

Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Trần Duy Đông: Tăng trưởng GRDP của Phú Thọ 2025 đạt 10,52%, thuộc nhóm cao nhất nước

Sau sáp nhập ba tỉnh, Phú Thọ ghi nhận tăng trưởng cao, thu hút mạnh vốn FDI và nội địa, cải cách hành chính quyết liệt, khẳng định vai trò tăng trưởng mới miền Bắc.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu bảo đảm chi trả đầy đủ lương, thưởng Tết cho người lao động

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu bảo đảm chi trả đầy đủ lương, thưởng Tết cho người lao động

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương theo dõi sát tình hình lao động – việc làm, đôn đốc doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ lương, thưởng Tết; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội, ổn định thị trường và đời sống Nhân dân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.
Ngành sản xuất khởi sắc đầu năm, PMI duy trì tăng trưởng 7 tháng liên tiếp

Ngành sản xuất khởi sắc đầu năm, PMI duy trì tăng trưởng 7 tháng liên tiếp

Ngành sản xuất Việt Nam mở đầu năm 2026 với những tín hiệu tích cực khi sản lượng, đơn hàng mới và việc làm tiếp tục gia tăng. Đáng chú ý, niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp lên mức cao nhất trong gần hai năm, phản ánh kỳ vọng lạc quan về triển vọng sản xuất trong thời gian tới.
Hà Nội khởi công hai đại đô thị gần 1.400 ha phía Bắc

Hà Nội khởi công hai đại đô thị gần 1.400 ha phía Bắc

Hà Nội khởi công hai khu đô thị đa mục tiêu Bắc Thăng Long Urban City và Thư Lâm – Đông Anh với tổng quy mô gần 1.400 ha, đáp ứng chỗ ở cho hơn 440.000 người, định hình mô hình đô thị xanh, thông minh, bền vững.
Kiến nghị Bộ Y tế làm đầu mối tháo gỡ vướng mắc Nghị định 46

Kiến nghị Bộ Y tế làm đầu mối tháo gỡ vướng mắc Nghị định 46

Sau khi Nghị định 46 có hiệu lực, nhiều khó khăn nảy sinh trong kiểm tra an toàn thực phẩm hàng nhập khẩu. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất giao Bộ Y tế chủ trì hướng dẫn, đồng thời sớm sửa đổi quy định cho phù hợp với thực tiễn.
Ưu đãi thuế, vốn và nhân lực: Công nghệ cao thành trụ cột tăng trưởng mới

Ưu đãi thuế, vốn và nhân lực: Công nghệ cao thành trụ cột tăng trưởng mới

Luật Công nghệ cao được thông qua, có hiệu lực từ 1/7/2026, bổ sung loạt ưu đãi thuế, tài trợ R&D, đầu tư phòng thí nghiệm dùng chung và chính sách thu hút nhân lực công nghệ chiến lược.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu xây dựng cơ chế thuê giám đốc doanh nghiệp Nhà nước

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu xây dựng cơ chế thuê giám đốc doanh nghiệp Nhà nước

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính giao Bộ Nội vụ xây dựng cơ chế thuê, tuyển dụng, bổ nhiệm giám đốc, tổng giám đốc trong doanh nghiệp Nhà nước, nhằm thu hút nhân tài, nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong bối cảnh mới.
Mục tiêu 50 doanh nghiệp nhà nước lọt nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á năm 2030

Mục tiêu 50 doanh nghiệp nhà nước lọt nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á năm 2030

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Ban Chỉ đạo triển khai Nghị quyết 79, yêu cầu hành động nhanh, tháo gỡ điểm nghẽn, xây dựng doanh nghiệp nhà nước quy mô khu vực và toàn cầu.
Từ châu Á sang châu Phi, EU: Bộ Công Thương mở rộng “bản đồ” cho gạo Việt năm 2026

Từ châu Á sang châu Phi, EU: Bộ Công Thương mở rộng “bản đồ” cho gạo Việt năm 2026

Xuất khẩu gạo Việt Nam năm 2025 đạt 8,06 triệu tấn, kim ngạch 4,1 tỷ USD, giảm mạnh do nhu cầu suy yếu và cạnh tranh toàn cầu. Năm 2026, Bộ Công Thương đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, mở rộng thị trường, thúc đẩy gạo chất lượng cao.
Hơn 1 triệu doanh nghiệp hoạt động, khu vực tư nhân bứt tốc

Hơn 1 triệu doanh nghiệp hoạt động, khu vực tư nhân bứt tốc

Làn sóng gia nhập thị trường tăng mạnh ngay những ngày đầu năm 2026, đưa tổng số doanh nghiệp đang hoạt động vượt mốc một triệu. Đằng sau con số này là hiệu ứng rõ nét từ các chính sách “cởi trói” thể chế, cắt giảm thủ tục và giảm chi phí tuân thủ, tạo thêm không gian phát triển cho kinh tế tư nhân – khu vực đang đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng, ngân sách và đầu tư xã hội.
Hội nghị Công nghệ WCO 2026: Hải quan toàn cầu tìm lời giải cho thế giới nhiều biến động

Hội nghị Công nghệ WCO 2026: Hải quan toàn cầu tìm lời giải cho thế giới nhiều biến động

Diễn ra từ ngày 28–30/01/2026 tại Abu Dhabi (UAE), Hội nghị và Triển lãm Công nghệ của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong việc giúp các cơ quan Hải quan nâng cao năng lực thích ứng, bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại toàn cầu trong bối cảnh chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp.
Bí thư Đặc khu Phú Quốc: Tạo điều kiện tốt nhất để người dân giao đất xây dự án APEC

Bí thư Đặc khu Phú Quốc: Tạo điều kiện tốt nhất để người dân giao đất xây dự án APEC

Theo ông Lê Quốc Anh, APEC 2027 là sự kiện chính trị quan trọng và giúp Phú Quốc phát triển bền vững kinh tế, du lịch. Trong công tác thu hồi đất, địa phương luôn đảm bảo lợi ích của người dân.
Việt Nam cần hơn 77 tỷ USD cho ngành năng lượng giai đoạn 2026-2030

Việt Nam cần hơn 77 tỷ USD cho ngành năng lượng giai đoạn 2026-2030

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, đồng thời thực hiện các cam kết giảm phát thải, phát triển năng lượng được xác định là ưu tiên chiến lược hàng đầu. Hoàn thiện thể chế, thúc đẩy năng lượng tái tạo và tháo gỡ điểm nghẽn về vốn đang trở thành yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn 2026-2030.
Chính sách dài hạn là chìa khóa hút vốn cho điện gió ngoài khơi

Chính sách dài hạn là chìa khóa hút vốn cho điện gió ngoài khơi

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh và dư địa năng lượng truyền thống dần thu hẹp, điện gió ngoài khơi cùng hệ thống lưu trữ năng lượng được kỳ vọng trở thành trụ cột mới của ngành điện Việt Nam. Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng hàng trăm GW, yếu tố quyết định vẫn là khung chính sách ổn định, dài hạn và đủ sức hấp dẫn dòng vốn quy mô lớn, đặc biệt từ nhà đầu tư quốc tế.
Nâng cấp quan hệ Việt Nam – EU: Đòn bẩy cho chuyển đổi xanh và kinh tế biển

Nâng cấp quan hệ Việt Nam – EU: Đòn bẩy cho chuyển đổi xanh và kinh tế biển

Việt Nam – EU nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện, mở ra giai đoạn hợp tác mới về thương mại, chuyển đổi xanh, công nghệ và an ninh.