Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay ghi nhận xu hướng phục hồi tích cực, với lúa Đài Thơm 8 và OM 18 đồng loạt tăng khoảng 300 đồng/kg. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam và một số nước châu Á như Thái Lan, Ấn Độ cũng có những cải thiện nhẹ.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 9/4/2026: Giá lúa tăng, gạo nguyên liệu ổn định |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá ổn định. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá không đổi.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá đi ngang.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 hiện ở mức 8.100 – 8.200 đồng/kg; gạo OM 5451 giao dịch ở mức 8.650 – 8.750 đồng/kg; gao OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 9/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, hiện gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục đi ngang. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 9/4/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm không đổi so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám tăng 50 đồng/kg, lên 6.850 – 7.050 đồng/kg. Trong khi đó, giá tấm IR 504 vẫn ổn định ở mức 7.600 – 7.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 9/4/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa không còn dồi dào, kéo theo hoạt động mua bán diễn ra chậm. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, khiến giá biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa tăng nhẹ.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tăng so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 đồng loạt tăng 300 đồng/kg, dao động ở mốc 5.800 - 6.100; giá lúa OM 5451 (tươi) tăng 100 đồng/kg dao động mốc 5.500 - 5.600 đồng/kg. Tuy nhiên, giá lúa IR 50404 (tươi) ổn định trong khoảng 5.400 - 5.500 đồng/kg; OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg; lúa OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động ở mức 5.100 – 5.200 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 9/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo trắng 5% tấm của Việt Nam hiện đang dao động trong khoảng 366 - 370 USD/tấn, tăng nhẹ 1 USD/tấn so với cuối trước. Đáng chú ý, giá gạo Jasmine tăng 8 USD/tấn, lên 443 – 447 USD/tấn. Riêng gạo thơm 5% tấm vẫn ổn định ở mức 440 – 445 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm Thái Lan tăng 3 USD/tấn so với cuối tuần trước, đạt 366 – 373 USD/tấn. Trong khi đó, giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan cũng tăng 1 USD/tấn, dao động từ 345 - 349 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo trắng 5% tấm giữ ổn định ở mức 335 – 339 USD/tấn, trong khi gạo đồ 5% tấm giảm 1 USD/tấn, còn 343 – 347 USD/tấn.
Theo Cục Công nghiệp Thực vật Philippines (BPI), nhập khẩu gạo của Philippines trong quý I/2026 tăng gần 37% so với cùng kỳ năm trước, đạt 1,26 triệu tấn, cao hơn mức 917.854 tấn cùng kỳ 2025. Con số này cũng vượt khoảng 500.000 tấn so với mức 750.000 tấn mà Bộ Nông nghiệp (DA) khuyến nghị các doanh nghiệp hạn chế nhập khẩu.
Bộ trưởng Nông nghiệp Francisco Tiu Laurel nhấn mạnh với Manila Bulletin rằng DA sẽ không điều chỉnh mức khuyến nghị này, bất chấp áp lực lạm phát từ xung đột tại Trung Đông, vì đây chỉ là biện pháp mang tính tự nguyện. Do thiếu cơ sở pháp lý để giới hạn nhập khẩu, DA đang tìm kiếm cam kết từ các nhà nhập khẩu nhằm giảm khối lượng nhập khẩu, đảm bảo giá thu mua tại ruộng ổn định. Sáng kiến này kỳ vọng tái lập kết quả tích cực từ lệnh cấm nhập khẩu gạo 4 tháng năm ngoái, giúp cải thiện giá mà không gây gián đoạn nguồn cung.
Trong bối cảnh giá lương thực được dự báo tiếp tục duy trì cao, DA và Hội đồng Điều phối Giá Quốc gia liên ngành (NPCC) đang đề xuất áp trần 50 peso/kg đối với gạo nhập khẩu loại 5% tấm – loại phổ biến nhất – nhằm kiềm chế tăng giá bất hợp lý. Việc triển khai chính sách vẫn chờ sắc lệnh hành pháp (EO) từ Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr.
Dữ liệu BPI cho thấy Việt Nam là nhà cung cấp gạo lớn nhất, với 1,07 triệu tấn, chiếm gần 85% tổng khối lượng nhập khẩu. Thái Lan đứng thứ hai với 98.121 tấn, Myanmar 67.036 tấn và Campuchia 22.810 tấn. Tính đến ngày 1/4, BPI đã cấp 1.456 giấy phép kiểm dịch SPS cho 1,47 triệu tấn gạo xay xát nhập khẩu, trong đó khoảng 86% khối lượng đã cập cảng.
Cơ quan Thống kê Philippines (PSA) cho biết lạm phát tháng 3 tăng lên 4,1%, phần lớn do giá thực phẩm, khiến các biện pháp ổn định giá gạo trở thành ưu tiên cấp thiết trong thời gian tới.