Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tiếp tục đi ngang. Tuy nhiên, theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc, chỉ số giá gạo toàn cầu tháng 3 giảm 3% so với tháng trước và gần 4% so với cùng kỳ.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 7/4/2026: Giá lúa gạo gạo trầm lắng, áp lực giảm giá lan rộng toàn cầu |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại ổn định. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá tương đối ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho giao dịch chậm, mua bán ít. giá chững. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá không biến động.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo CL 555 hiện ở mức 8.050 – 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động từ 8.450 – 8.550 đồng/kg; gạo IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 7/4/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại không biến động. Theo đó, giá gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp ổn định. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 7/4/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm bình ổn. Cụ thể, giá tấm IR 504 vẫn ổn định ở mức 7.600 – 7.700 đồng/kg; giá cám hiện ở mức 6.800 – 7.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 7/4/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn ít, giá chững. Tại Cần Thơ, nguồn có rải rác tập trung ở một số khu vực thu hoạch muộn, giá chững.
Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, bạn hàng hỏi mua ít, giá ít biến động.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay không biến động so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa tươi OM 5451 (tươi) dao động từ 5.400 - 5.600 đồng/kg; giá lúa tươi Đài Thơm 8 ở mức 5.600 - 5.750 đồng/kg; lúa OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động ở mức 5.100 – 5.200 đồng/kg; OM 18 hiện ở mức 5.700 - 5.800 đồng/k, giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 7/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan (TREA), giá gạo trắng 5% tấm của nước này vẫn đang được giao dịch ở mức 384 USD/tấn.
Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Việt Nam vẫn được báo giá ở mức 361 - 365 USD/tấn, giá gạo Jasmine duy trì trong khoảng 431 – 435 USD/tấn. Tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm dao động từ 344 - 348 USD/tấn. Còn tại Ấn Độ, gạo trắng 5% tấm đạt 335 – 339 USD/tấn – thấp nhất trong số các nước xuất khẩu gạo hàng đầu; gạo đồ 5% tấm có giá 344 – 348 USD/tấn.
Theo báo cáo mới nhất của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc, chỉ số giá gạo toàn cầu (FARPI) tháng 3 đạt 100,1 điểm, giảm 3% so với tháng trước và gần 4% so với cùng kỳ năm 2025.
Đáng chú ý, giá gạo giảm trên tất cả các thị trường xuất khẩu chủ chốt, trong đó khu vực châu Á chịu tác động mạnh nhất. Nguyên nhân chính đến từ căng thẳng leo thang tại Trung Đông, làm gián đoạn hoạt động vận chuyển tới các nước vùng Vịnh – nhóm thị trường chiếm khoảng 11% thương mại gạo toàn cầu. Nhiều lô hàng bị trì hoãn, chuyển hướng, trong khi chi phí logistics tăng mạnh do thiếu container, phụ phí chiến tranh và bảo hiểm.
Dù các tuyến thay thế qua eo biển Hormuz được triển khai, bất ổn về nhu cầu và chi phí vận tải vẫn khiến giao dịch toàn cầu chững lại. Cùng với đó, việc đồng nội tệ mất giá tại các nước xuất khẩu lớn như Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam tiếp tục gây áp lực giảm giá, trong bối cảnh nguồn cung gia tăng khi nhiều quốc gia bước vào vụ thu hoạch.
Ở góc độ mặt hàng, các phân khúc đều ghi nhận xu hướng đi xuống: gạo Indica giảm khoảng 3%, gạo thơm giảm 2,5%, Japonica giảm 2,1%, trong khi gạo nếp giảm mạnh nhất tới 5,8%. Giá chào xuất khẩu tại các nguồn cung lớn đồng loạt suy yếu, tiêu biểu như gạo 5% tấm của Việt Nam lùi về 333 USD/tấn.
Trái ngược với châu Á, thị trường châu Mỹ giữ được sự ổn định, thậm chí ghi nhận đà tăng tại Brazil và Uruguay. Tuy nhiên, xét tổng thể, áp lực từ địa chính trị, chi phí vận tải và nguồn cung dồi dào vẫn đang chi phối xu hướng giảm của thị trường gạo toàn cầu.