Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay không biến động. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Jasmine của Việt Nam cũng không ghi nhận biến động mới khi tiếp tục đi ngang ở mức 528 – 532 USD/tấn.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 29/5/2026: Giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá ổn định. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá không đổi.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá đi ngang.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 5451 ở mức 9.550 – 9.650 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 dao động trong khoảng 9.100 – 9.300 đồng/kg; gạo IR 504 hiện ở mức 8.400 – 8.550 đồng/kg; giá gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 29/5/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mức 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 29/5/2026 |
Phân khúc nếp không biến động so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg;…
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 29/5/2026 |
Giá các loại phụ phẩm ổn định. Cụ thể, giá tấm 3,4 đi ngang ở mức 7.600 – 7.700 đồng/kg; giá cám hiện ở mức 7.600 – 7.800 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa không còn dồi dào, kéo theo hoạt động mua bán diễn ra chậm. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, khiến giá biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa tăng nhẹ.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay bình ổn với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng tăng mạnh 400 đồng/kg, lên mức 6.500 – 6.700 đồng/kg; OM 5451 (tươi) cũng tăng thêm 300 đồng/kg, lên mức 5.800 – 6.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động quanh mức 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 29/5/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine của Việt Nam cũng không ghi nhận biến động mới khi tiếp tục đi ngang ở mức 528 – 532 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm có giá 505 – 520 USD/tấn và gạo trắng 5% tấm đạt 412 – 416 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá chào bán gạo trắng 5% tấm của nước này dao động từ 440 - 444 USD/tấn – cao nhất trong số các nước xuất khẩu gạo hàng đầu. Trong khi đó, sản phẩm cùng loại của Pakistan dao động từ 347 – 351 USD/tấn. Tại Ấn Độ, giá trắng 5% tấm cũng đi ngang trong khoảng 342 – 346 USD/tấn, trong khi gạo đồ 5% tấm đạt 332 – 336 USD/tấn.
Trong bối cảnh nhiều quốc gia châu Á gia tăng lo ngại về an ninh lương thực, Indonesia và Myanmar đang đồng loạt triển khai các kế hoạch lớn liên quan đến dự trữ và xuất khẩu gạo. Động thái này cho thấy thị trường lúa gạo khu vực đang bước vào giai đoạn cạnh tranh nguồn cung ngày càng rõ nét.
Theo Tân Hoa Xã, Cơ quan Hậu cần Nhà nước Indonesia (Bulog) đang chuẩn bị mở rộng sức chứa kho dự trữ lên 7 triệu tấn khi lượng gạo dự trữ quốc gia tiếp tục tăng mạnh. Hiện tồn kho của Bulog đã đạt khoảng 5,39 triệu tấn – mức cao đáng chú ý trong nhiều năm gần đây.
Ông Ahmad Rizal Ramdhani, Giám đốc điều hành Bulog, cho biết hệ thống kho hiện tại chỉ đáp ứng khoảng 4 triệu tấn. Để xử lý lượng gạo ngày càng tăng, cơ quan này đã phải thuê thêm các kho chứa với sức chứa khoảng 2 triệu tấn và đang tiếp tục chuẩn bị thêm 1 triệu tấn kho dự phòng.
Theo giới quan sát, việc Indonesia đẩy mạnh dự trữ cho thấy nước này đang ưu tiên mục tiêu ổn định nguồn cung trong nước trước nguy cơ thị trường lương thực toàn cầu tiếp tục biến động bởi xung đột địa chính trị và thời tiết cực đoan. Dưới thời Tổng thống Prabowo Subianto, Jakarta đang theo đuổi chiến lược tăng cường tự chủ lương thực, đồng thời đẩy mạnh thu mua lúa gạo từ nông dân trong nước khi sản lượng nội địa cải thiện.
Trong khi đó, Myanmar lại chọn hướng mở rộng xuất khẩu. Theo New Light of Myanmar, Liên đoàn Lúa gạo Myanmar (MRF) dự kiến triển khai dự án Khu vực Xuất khẩu Gạo trên diện tích khoảng 350.000 mẫu trong vụ mùa mưa năm nay.
Theo kế hoạch, diện tích này sẽ tiếp tục được mở rộng từng năm, hướng tới mục tiêu đạt 5 triệu mẫu và xuất khẩu 5 triệu tấn gạo vào năm 2030. Hiện chương trình đã được triển khai tại khoảng 100 thị trấn trên cả nước dưới sự phối hợp của Bộ Nông nghiệp, Chăn nuôi và Thủy lợi Myanmar.
Đại diện MRF cho biết nước này đang phối hợp với các bộ ngành để hỗ trợ giống lúa, vật tư nông nghiệp và nhiên liệu cho nông dân trước vụ gieo trồng mới. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm duy trì sản lượng và tăng khả năng cạnh tranh của gạo Myanmar trên thị trường quốc tế.
Theo số liệu từ MRF, khoảng 80% sản lượng gạo Myanmar hiện phục vụ nhu cầu trong nước, chỉ 20% dành cho xuất khẩu. Tuy nhiên, ngay trong tháng đầu tiên của niên vụ tài chính 2026 - 2027, nước này đã thu về khoảng 51 triệu USD từ xuất khẩu gạo và gạo tấm.
Việc Indonesia tăng tốc tích trữ trong khi Myanmar mở rộng xuất khẩu cho thấy các nước trong khu vực đang có những chiến lược khác nhau để ứng phó với biến động thị trường lương thực toàn cầu. Trong bối cảnh nhu cầu gạo vẫn ở mức cao, những động thái này được dự báo sẽ tiếp tục tác động đáng kể tới cung cầu gạo thế giới thời gian tới.