Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay nhìn chung ổn định, giao dịch không biến động lớn. Trên thị trường thế giới, giá gạo ghi nhận tín hiệu phục hồi.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 22/5/2026: Giá lúa gạo ổn định, gạo thế giới tăng nhẹ |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán trầm lắng, giá gạo các loại tương đối ổn định. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, ít kho mua vào, gạo các loại giá ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 5451 ở mức 9.550 – 9.650 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 dao động trong khoảng 9.100 – 9.300 đồng/kg; gạo IR 504 hiện ở mức 8.400 – 8.550 đồng/kg; giá gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 22/5/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mức 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 22/5/2026 |
Phân khúc nếp duy không đổi so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg;.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 22/5/2026 |
Giá các loại phụ phẩm chững lại. Cụ thể, giá nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg; giá tấm 3,4 hiện ở mức 7.550 – 7.650 đồng/kg; giá cám ở mức 7.700 – 7.800 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, giao dịch chậm, nguồn lúa chào bán rải rác tại một số khu vực, giá ổn định. Tại An Giang, bạn hàng giao dịch ít, giá biến động không nhiều.
Tại Cần Thơ, nguồn lúa thu hoạch tại một số khu vực, giá vững. Tại Cà Mau, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán ít, lúa các loại giá vững giá.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay không biến động so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng tăng mạnh 400 đồng/kg, lên mức 6.500 – 6.700 đồng/kg; OM 5451 (tươi) cũng tăng thêm 300 đồng/kg, lên mức 5.800 – 6.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động quanh mức 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 22/5/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine 5% tấm của Việt Nam quay đầu giảm 1 USD/tấn so với ngày hôm trước, đạt 524 – 528 USD/tấn. Trong khi đó, giá gạo trắng 5% tấm vẫn ổn định trong khoảng 412 – 416 USD/tấn, giá gạo thơm 5% tấm dao động từ 505 – 520 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm tiếp tục tăng thêm 3 USD/tấn, lên mức 429 - 433 USD/tấn. Sản phẩm cùng loại của Pakistan cũng tăng nhẹ 2 USD/tấn, lên mức 349 – 353 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo đồ 5% tấm được chào bán ở mức 331 – 335 USD/tấn, tăng nhẹ 1 USD/tấn. Tuy nhiên, giá gạo 5% tấm vẫn duy trì ổn định trong khoảng 342 – 346 USD/tấn.
Dữ liệu xuất khẩu gạo 4 tháng đầu năm 2026 cho thấy một bức tranh nhiều gam màu đan xen của ngành lúa gạo Việt Nam. Trong khi sản lượng xuất khẩu vẫn duy trì ở mức cao với hơn 3,37 triệu tấn, kim ngạch lại giảm sâu tới 10,3%, cho thấy xu hướng giảm giá trên thị trường quốc tế vẫn chưa hạ nhiệt. Giá gạo xuất khẩu bình quân chỉ còn 468 USD/tấn, thấp hơn 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Tuy nhiên, điểm sáng đáng chú ý là cấu trúc thị trường xuất khẩu của Việt Nam đang có sự dịch chuyển tích cực. Philippines tiếp tục giữ vai trò “trụ đỡ” khi chiếm hơn một nửa lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Việc thị trường này tăng nhập khẩu trong bối cảnh nhiều quốc gia siết an ninh lương thực cho thấy gạo Việt Nam vẫn giữ được lợi thế về giá và khả năng cung ứng ổn định. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang Trung Quốc, Malaysia và đặc biệt Iraq tăng đột biến đang mở ra dư địa lớn cho doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh nhu cầu lương thực toàn cầu có xu hướng tăng trở lại.
Ở chiều ngược lại, sự sụt giảm mạnh tại Indonesia hay nhiều thị trường châu Phi phản ánh rõ xu hướng các quốc gia đang ưu tiên tự chủ lương thực, giảm phụ thuộc nhập khẩu. Điều này buộc ngành gạo Việt Nam phải đẩy nhanh tái cơ cấu thị trường, nâng chất lượng và xây dựng thương hiệu thay vì phụ thuộc vào xuất khẩu số lượng lớn.
Đáng chú ý, dự báo mới từ Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đang tạo thêm kỳ vọng cho thị trường gạo toàn cầu khi sản lượng niên vụ 2026 - 2027 được dự báo giảm, trong khi nhu cầu tiêu thụ tiếp tục tăng mạnh. Bối cảnh cung giảm - cầu tăng có thể trở thành lực đỡ quan trọng cho giá gạo thế giới trong những tháng tới. Với vị thế là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, Việt Nam đang đứng trước cơ hội gia tăng thị phần và nâng giá trị xuất khẩu nếu tận dụng tốt xu hướng thiếu hụt nguồn cung toàn cầu.