Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay đồng loạt tăng từ 100 - 200 đồng/kg với gạo nguyên liệu. Trên thị trường thế giới, sản lượng gạo của Thái Lan dự báo giảm trong niên vụ 2026 – 2027.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 8/4/2026: Giá gạo nguyên liệu và giá cám tăng nhẹ |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, nhiều kho lớn không mua vào, gạo các loại điều chỉnh nhẹ. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, đa số kho lớn ngừng mua, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán yếu, giá gạo ít biến động.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tăng 50 – 200 đồng/kg so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 tăng 100 đồng/kg, lên mức 8.100 – 8.200 đồng/kg; gạo OM 5451 cũng tăng 200 đồng/kg, giao dịch ở mức 8.650 – 8.750 đồng/kg. Tuy nhiện, gao OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 8/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, hiện gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 8/4/2026 |
Phân khúc nếp duy trì bình ổn. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm tăng nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám tăng 50 đồng/kg, lên 6.850 – 7.050 đồng/kg. Trong khi đó, giá tấm IR 504 vẫn ổn định ở mức 7.600 – 7.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 8/4/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương hôm nay, thị trường giao dịch cầm chừng, nhu cầu chậm, lúa có xu hướng quay đầu. Tại Bạc Liêu, giao dịch lúa mới rất chậm, đa số thương lái ngưng mua, một số xin bớt giá giá cao.
Tại Long An, giao dịch không nhiều, giá ổn định. Tại An Giang, lúa cuối đồng giao dịch ít, hầu hết lúa đã cọc. Tại Đồng Tháp, nông dân chào bán lúa lai rai, giao dịch chậm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tiếp tục ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa tươi OM 5451 (tươi) dao động từ 5.400 - 5.600 đồng/kg; giá lúa tươi Đài Thơm 8 ở mức 5.600 - 5.750 đồng/kg; lúa OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động ở mức 5.100 – 5.200 đồng/kg; OM 18 hiện ở mức 5.700 - 5.800 đồng/k, giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 8/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan (TREA), giá gạo trắng 5% tấm Thái Lan giữ ổn định ở mức 384 USD/tấn.
Tại Việt Nam, gạo trắng 5% tấm duy trì trong khoảng 361 - 365 USD/tấn, giá gạo Jasmine duy trì trong khoảng 431 – 435 USD/tấn.Tiếp đến là Pakistan, với giá gạo trắng 5% tấm dao động từ 344 - 348 USD/tấn.
Còn tại Ấn Độ, gạo trắng 5% tấm đứng ở mức 335 – 339 USD/tấn – thấp nhất trong số các nước xuất khẩu gạo hàng đầu; gạo đồ 5% tấm có giá 344 – 348 USD/tấn.
Theo báo cáo của USDA Foreign Agricultural Service (USDA FAS), sản lượng gạo xay xát của Thailand niên vụ 2026 - 2027 dự kiến đạt 20,3 triệu tấn, giảm 2% so với vụ trước. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc thu hẹp diện tích lúa trái vụ, dự kiến giảm từ 2,1 triệu ha xuống còn 1,9 triệu ha do rủi ro thiếu nước. Dù lượng nước hồ chứa đã cải thiện sau mùa mưa 2025, cảnh báo về khả năng El Niño quay trở lại giữa năm 2026 đang phủ bóng lên kế hoạch sản xuất.
Ở chiều tiêu thụ, nhu cầu nội địa của Thái Lan được giữ ổn định ở mức 12,4 triệu tấn, nhờ lực đỡ từ ngành du lịch phục hồi mạnh. Tuy nhiên, áp lực bên ngoài ngày càng lớn khi xuất khẩu dự kiến duy trì ở mức 7,3 triệu tấn, thấp hơn các năm trước. Đồng Baht mạnh lên, chi phí logistics tăng cao trong bối cảnh bất ổn địa chính trị, cùng sự cạnh tranh quyết liệt từ Ấn Độ, Việt Nam và Pakistan đang làm suy giảm lợi thế truyền thống của gạo Thái.
Trái ngược, Indonesia lại cho thấy thế chủ động về an ninh lương thực. Theo Bộ Nông nghiệp nước này, dự trữ gạo đã đạt 4,6 triệu tấn – mức cao kỷ lục, đủ đáp ứng nhu cầu trong 10–11 tháng. Đây được xem là “vùng đệm chiến lược” trong bối cảnh nguy cơ hạn hán do El Niño có thể kéo dài khoảng 6 tháng.
Ở quy mô toàn cầu, áp lực lương thực vẫn chưa hạ nhiệt. Food and Agriculture Organization ước tính khoảng 724 triệu người đang đối mặt với nạn đói, trong khi căng thẳng địa chính trị có thể đẩy thêm 40 triệu người vào tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm trọng. Diễn biến này cho thấy, gạo không chỉ là hàng hóa thiết yếu mà đang ngày càng mang tính chiến lược, chi phối trực tiếp ổn định kinh tế và an ninh khu vực.