Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tiếp tục ổn định. Trong tuần qua, ghi nhận giá lúa gạo biến động trái chiều 100 đồng/kg.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 9/2/2026: Phiên đầu tuần, giá lúa gạo tiếp tục bình ổn |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán yếu, giá các loại bình ổn. Tại An Giang, gạo về lượng ít, giao dịch mua bán cầm chừng.
Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo nguyên liệu thơm, OM5451, CL555 và các loại khác khác ít biến động. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán mới vẫn chậm, sức mua yếu.
Giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên IR 504 hiện dao động trong khoảng 8.000 – 8.100 đồng/kg; CL 555 hiện giao dịch ở mức 8.200 – 8.300 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; gạo IR 50404 duy trì ổn định ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.600 - 7.700 đồng/kg; OM 5451 ổn định trong khoảng 8.750 – 8.900 đồng/kg; gạo Sóc thơm hiện ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 hiện ở mức 8.600 - 8.750 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 9/2/2026 |
Tại các chợ dân sinh, mặt hàng gạo các loại không đổi. Cụ thể, gạo thường hiện ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen hiên ở mức cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài niêm yết 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp đứng giá. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp IR 4625 (khô) ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô dao động ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 9/2/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Mặt hàng phụ phẩm đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cảm hiện dao động ở mức 8.000 – 8.300 đồng/kg; giá tấm OM 5451 ổn định ở mức 7.450 - 7.550 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 9/2/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán ít, giá lúa tươi vững. Tại Cần Thơ, giao dịch lúa vẫn chậm, nông dân chủ yếu chào bán lúa cắt sau tết, giá ít biến động.
Tại Tại An Giang, lúa Đông Xuân chào bán chủ yếu cắt sau tết, giao dịch chốt ít, giá chững. Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán chậm, giá ít biến động.
Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, thị trường lúa hôm nay chững lại so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa tươi IR 50404 ổn định ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) xuống mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; giá lúa OM 4218 hiện ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; giá lúa OM 18 và Đài Thơm 8 (tươi) dao động trong khoảng 6.500 - 6.700 đồng/kg; lúa Nàng nhen khô hiện duy trì ở mức 20.000 đồng/kg; lúa Nàng Hoa ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 9/2/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam không biến động so với phiên hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), hiện gạo thơm 5% tấm giá dao động ở mức 415 - 430 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động ở mức 315 - 319 USD/tấn; gạo Jasmine giá dao động 426 - 430 USD/tấn.
Bước sang năm 2026, xuất khẩu gạo Việt Nam được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức mang tính cấu trúc, trong bối cảnh thị trường gạo toàn cầu bước vào chu kỳ dư cung và cạnh tranh gay gắt hơn. Việc Ấn Độ dỡ bỏ hoàn toàn các biện pháp hạn chế xuất khẩu từ năm 2025 tiếp tục tạo áp lực lớn lên mặt bằng giá, khiến biên lợi nhuận của các nước xuất khẩu, trong đó có Việt Nam, bị thu hẹp.
Đáng chú ý, Indonesia - từng là thị trường nhập khẩu lớn đang nổi lên như một nhân tố mới trên “bản đồ cung”. Với sản lượng gạo năm 2026 dự kiến đạt khoảng 36 triệu tấn và tồn kho lớn, nước này không chỉ dừng nhập khẩu mà còn nghiên cứu khả năng xuất khẩu gạo chất lượng cao, qua đó có thể trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam tại thị trường ASEAN trong trung hạn.
Ở chiều cầu, nhu cầu nhập khẩu tại các thị trường truyền thống như Philippines, Malaysia hay Indonesia khó có khả năng phục hồi mạnh trong ngắn hạn, khi các nước này ưu tiên ổn định sản xuất trong nước và kiểm soát lạm phát lương thực. Điều này buộc gạo Việt Nam phải tiếp tục mở rộng sang các thị trường “phi truyền thống”.
Triển vọng năm 2026 vì vậy được đặt nhiều kỳ vọng vào châu Phi, Trung Quốc và Nam Á - những khu vực có nhu cầu lớn, ít tự chủ nguồn cung. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội, ngành gạo Việt Nam cần chuyển mạnh từ tăng lượng sang nâng giá trị, tập trung phân khúc gạo chất lượng cao, gạo thơm và gạo đặc sản.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt, năm 2026 sẽ là phép thử rõ nét cho năng lực thích ứng, tái cơ cấu thị trường và nâng tầm thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.