Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay ít biến động. Thị trường cận Tết giao dịch chậm, giá gạo xuất khẩu đi ngang, giá lúa vững.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 7/2/2026: Giá gạo nguyên liệu giảm nhẹ, giá cám tăng |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thị trường lặng sóng, giao dịch mua bán vẫn chậm. Tại An Giang, gạo về lượng ít, giao dịch mua bán khá chậm, gạo các loại ổn định.
Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo nguyên liệu thơm, OM5451, CL555 và các loại khác khác bình ổn. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán chậm, sức mua gạo chợ yếu, gạo các loại ít biến động.
Giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giảm nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên IR 504 giảm nhẹ 50 đồng/kg, dao động trong khoảng 8.000 – 8.100 đồng/kg. Trong khi đó, giá gạo nguyên liệu CL 555 hiện giao dịch ở mức 8.200 – 8.300 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; gạo IR 50404 duy trì ổn định ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.600 - 7.700 đồng/kg; OM 5451 ổn định trong khoảng 8.750 – 8.900 đồng/kg; gạo Sóc thơm hiện ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 hiện ở mức 8.600 - 8.750 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 7/2/2026 |
Tại các chợ dân sinh, mặt hàng gạo các loại đứng giá. Cụ thể, gạo thường hiện ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen hiên ở mức cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài niêm yết 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 7/2/2026 |
Phân khúc nếp không biến động. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp IR 4625 (khô) ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô dao động ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
Mặt hàng phụ phẩm tăng nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, tăng 100 đồng/kg, lên mức 8.000 – 8.300 đồng/kg. Tuy nhiênm giá tấm OM 5451 ổn định ở mức 7.450 - 7.550 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 7/2/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán yếu, giá lúa tươi chững. Tại Cần Thơ, giao dịch chốt mua lúa mới ít, giá ít biến động.
Tại An Giang, lúa Đông Xuân chào bán khá, giao dịch chốt cầm chừng, lúa thơm nông dân chào nhích, giá ít biến động. Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán trầm lắng, giá ít biến động.
Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay duy trì ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa tươi IR 50404 ổn định ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) xuống mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; giá lúa OM 4218 hiện ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; giá lúa OM 18 và Đài Thơm 8 (tươi) dao động trong khoảng 6.500 - 6.700 đồng/kg; lúa Nàng nhen khô hiện duy trì ở mức 20.000 đồng/kg; lúa Nàng Hoa ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 7/2/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Thị trường gạo xuất khẩu châu Á trong tuần này ghi nhận diễn biến trái chiều, khi giá gạo của Ấn Độ tăng lên mức cao nhất gần một tháng, trong khi Việt Nam và Thái Lan gần như đi ngang.
Theo Reuters, lực đẩy chính đến từ sự phục hồi mạnh của đồng Rupee và nhu cầu nhích lên, thay vì sự bứt phá thực chất về cầu. Cụ thể, gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ được chào bán ở mức 353–359 USD/tấn, tăng so với tuần trước và cao nhất kể từ đầu tháng 1. Đồng Rupee tăng hơn 1% trong tuần đã buộc các doanh nghiệp xuất khẩu điều chỉnh giá chào bán bằng USD để bù đắp rủi ro tỷ giá, qua đó kéo mặt bằng giá xuất khẩu đi lên. Tuy nhiên, mức tăng này cũng làm suy giảm biên lợi nhuận, khiến hoạt động giao dịch vẫn mang tính dè dặt.
Trong khi đó, giá gạo 5% tấm của Việt Nam giữ ổn định ở mức 360–367 USD/tấn. Dù Philippines đã quay lại thị trường, các thương nhân cho rằng khối lượng mua khó đạt mức cao như cùng kỳ năm ngoái. Dữ liệu vận chuyển cho thấy xuất khẩu tháng 1 ở mức trung bình, phản ánh tâm lý thận trọng của cả bên mua lẫn bên bán.
Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm duy trì quanh 390–400 USD/tấn, cao nhất khu vực. Nguồn cung dồi dào giúp thị trường không biến động mạnh, song đồng Baht mạnh tiếp tục gây sức ép lên các nhà xuất khẩu.
Ở chiều ngược lại, Bangladesh vẫn đối mặt với giá gạo nội địa cao dù thu hoạch và nhập khẩu tăng, còn Indonesia bước vào chu kỳ thuận lợi khi sản lượng năm 2025 tăng mạnh và triển vọng nguồn cung đầu năm 2026 tiếp tục tích cực. Những yếu tố này cho thấy áp lực dư cung khu vực vẫn hiện hữu, kìm hãm khả năng tăng giá mạnh trong ngắn hạn.