Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tăng giảm trái chiều. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo của Việt Nam giảm nhẹ 1 - 2 USD/tấn, còn giá của các nước khác vẫn duy trì ổn định.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 5/3/2026: Giá lúa gạo trái chiều, gạo xuất khẩu Việt Nam giảm nhẹ |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá giảm tiếp so với hôm qua. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá tương đối ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tăng giảm trái chiều so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 tăng 50 đồng/kg, lên mức 7.900 – 8.100 đồng/kg. Ngược lại, gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 giảm 250 đồng/kg, xuống còn 9.150 – 9.450 đồng/kg. Tuy nhiện, gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; OM 380 dao động 7.600 – 7.700 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 giữ quanh 8.900 – 9.100 đồng/kg; OM 5451 trong khoảng 8.750 – 8.900 đồng/kg; Sóc thơm 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 5/3/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại bình ổn so với hôm qua. Giá gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 5/3/2026 |
Phân khúc nếp không biến động. Theo đó, nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô 9.500 – 9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm giảm nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám giảm 50 đồng/kg, xuống còn 7.900 – 8.100 đồng/kg. Trong khi giá tấm IR 504 ổn định ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 5/3/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn ít, giá chững. Tại Cần Thơ, nguồn có rải rác tập trung ở một số khu vực thu hoạch muộn, giá chững. Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, bạn hàng hỏi mua ít, giá ít biến động.
Thị trường lúa giao dịch cầm chừng, song giá đ ingang so với phiên hôm qua. Tại An Giang, lúa tươi IR 50404 giữ mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 5451 ở 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg; OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 5/3/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu cập nhật mới nhất từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine của Việt Nam giảm nhẹ 1 USD/tấn so với ngày hôm trước, xuống còn 430 – 434 USD/tấn. Tương tự, gạo trắng 5% tấm giảm 2 USD/tấn, ở mức 357 - 361 USD/tấn. Trong khi đó, gạo thơm 5% tấm vẫn duy trì ổn định ở mức 400 – 415 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm tiếp tục giữ ổn định ở mức 381 – 385 USD/tấn, đây cũng là mức giá cao nhất trong khu vực do đồng Baht mạnh lên.
Báo giá gạo của Ấn Độ cũng không ghi nhận biến động mới, dao động ở mức 351 – 355 USD/tấn đối với gạo trắng 5% tấm và 350 – 354 USD/tấn đối với gạo đồ 5% tấm. Còn tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm tiếp tục đi ngang trong khoảng 362 - 366 USD/tấn.
Theo thông tin từ Hiệp hội Các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan đăng tải trên Bangkok Post, xuất khẩu gạo Thái Lan đang đối mặt xu hướng suy giảm rõ rệt ngay từ đầu năm 2026. Tháng 1 ghi nhận sản lượng chỉ đạt hơn 530.000 tấn, giảm 17,5% so với cùng kỳ; giá trị kim ngạch cũng lao dốc mạnh do giá xuất khẩu giảm sâu.
Cơ cấu mặt hàng cho thấy sự phân hóa đáng chú ý. Gạo trắng – chiếm gần 1/2 tổng lượng, giảm gần 15%. Đáng lo hơn, gạo Thái Hom Mali, dòng sản phẩm chủ lực và có giá trị cao, cũng giảm hơn 8%. Trong khi đó, một số phân khúc nhỏ như gạo nếp và gạo tấm Hom Mali tăng trưởng hai con số, nhưng quy mô chưa đủ bù đắp đà giảm chung.
Thị trường xuất khẩu biến động mạnh. Lượng gạo sang Mỹ và Iraq giảm sâu, phản ánh áp lực cạnh tranh và yếu tố thuế quan. Ngược lại, Malaysia và Trung Quốc tăng mua đột biến. Đáng chú ý, Bangkok chuẩn bị giao 40.000 tấn trong tổng hợp đồng 500.000 tấn cho Bắc Kinh theo thỏa thuận chính phủ với chính phủ, tạo điểm tựa ngắn hạn cho xuất khẩu.
Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi nằm ở tỷ giá. Đồng baht được cho là đang bị định giá cao, khiến giá gạo Thái trở nên kém cạnh tranh. Hiện gạo Hom Mali được chào bán quanh mức 1.100 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với gạo thơm Việt Nam và Campuchia. Trong bối cảnh dư cung toàn cầu và xu hướng tự chủ lương thực gia tăng tại Indonesia, Philippines, áp lực càng lớn.
Hiệp hội Các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan dự báo cả năm 2026 xuất khẩu chỉ đạt hơn 7 triệu tấn, giảm hai chữ số so với năm trước. Bài toán đặt ra cho Thái Lan là cân bằng giữa chất lượng cao cấp và mức giá đủ cạnh tranh – nếu không muốn đánh mất lợi thế truyền thống trên bản đồ gạo thế giới.