Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay giữ ổn định. Trên thị trường xuất khẩu, sản lượng gạo toàn cầu trong niên vụ 2025 - 2026 dự báo giảm 400.000 tấn so với niên vụ trước, trong khi tiêu thụ tăng mạnh 11,2 triệu tấn.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 4/3/2026: Giá lúa gạo bình ổn, xuất khẩu đối mặt nghịch lý cung – cầu |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán trầm lắng, giá gạo các loại tương đối ổn định. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, ít kho mua vào, gạo các loại giá ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 hiện duy trì ở mức 9.350 – 9.600 đồng/kg; CL 555 ở mức 7.950 – 8.050 đồng/kg; gạo IR 50404 thu mua ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; OM 380 dao động 7.600 – 7.700 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 giữ quanh 8.900 – 9.100 đồng/kg; OM 5451 trong khoảng 8.750 – 8.900 đồng/kg; Sóc thơm 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 4/3/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại không đổi so với hôm qua. Giá gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp bình ổn. Theo đó, nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô 9.500 – 9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 4/3/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm không biến động so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám hiện dao động ở mức 7.950 – 8.150 đồng/kg; giá tấm IR 504 giữ ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 4/3/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn ít, giá chững. Tại Cần Thơ, nguồn có rải rác tập trung ở một số khu vực thu hoạch muộn, giá chững.
Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, bạn hàng hỏi mua ít, giá ít biến động.
Thị trường lúa giao dịch cầm chừng, song giá duy trì ổn định. Tại An Giang, lúa tươi IR 50404 giữ mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 5451 ở 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg; OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 4/3/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine của Việt Nam duy trì ổn định ở mức 431 - 435 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm đạt 359 - 363 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm có giá 400 - 415 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm được báo giá ở mức cao nhất trong khu vưch với 381 – 385 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm và gạo đồ 5% tấm của Ấn Độcùng được báo giá ở mức 351 - 355 USD/tấn. Giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan dao động ở mức 362 - 366 USD/tấn.
Báo cáo tháng 2 của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cho thấy bức tranh cung - cầu gạo niên vụ 2025 - 2026 đang dịch chuyển theo hướng đáng chú ý: nguồn cung đạt mức cao kỷ lục, trong khi sản lượng không còn tăng mạnh như giai đoạn trước.
Theo cập nhật mới nhất, sản lượng gạo toàn cầu dự báo đạt 541,3 triệu tấn (quy xay xát), nhích nhẹ so với dự báo trước, chủ yếu nhờ điều chỉnh tăng tại Campuchia do cải thiện năng suất. Tuy nhiên, so với mức kỷ lục của niên vụ 2024 - 2025, con số này vẫn thấp hơn.
Ấn Độ và Trung Quốc tiếp tục giữ vai trò trụ cột sản xuất, với sản lượng ổn định ở mức rất cao. Dù vậy, mức tăng của hai quốc gia này cùng Bangladesh chỉ đủ bù đắp một phần cho sự sụt giảm tại nhiều nước sản xuất lớn như Brazil, Indonesia, Pakistan, Thái Lan, Mỹ và Việt Nam.
Đáng chú ý, tổng nguồn cung niên vụ 2025 - 2026 được nâng lên mức kỷ lục 732,6 triệu tấn nhờ điều chỉnh tồn kho đầu kỳ. Trong khi đó, tiêu thụ toàn cầu dù bị điều chỉnh giảm nhẹ so với dự báo trước nhưng vẫn tăng mạnh so với niên vụ trước, thiết lập mức cao nhất từ trước tới nay. Động lực tiêu thụ đến từ các thị trường châu Á và châu Phi – nơi nhu cầu lương thực thiết yếu tiếp tục tăng trong bối cảnh dân số gia tăng và an ninh lương thực được đặt lên hàng đầu.
Tồn kho cuối vụ dự báo giảm nhẹ so với năm trước, song vẫn duy trì ở mức cao. Trung Quốc và Ấn Độ tiếp tục nắm giữ phần lớn lượng dự trữ toàn cầu.