| Dự báo giá vàng 23/4: Giá vàng tiếp đà giảm Dự báo giá vàng 24/4: Giá vàng tiếp tục đi xuống Dự báo giá vàng 25/4: Giá vàng giảm nhẹ hoặc đi ngang |
![]() |
| Dự báo giá vàng 26/4: Giá vàng nghiêng về tăng nhẹ hoặc đi ngang |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 16h00’ ngày 25/4/2025, giá vàng miếng chiều nay tại các doanh nghiệp lớn đảo chiều tăng.
Cụ thể, tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), Tập đoàn Doji, Phú Quý và hệ thống PNJ, giá vàng miếng SJC cùng tăng 800.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào – bán ra, đưa giá giao dịch lên mức 166,2 – 168,8 triệu đồng/lượng.
Tại hệ thống Bảo Tín Minh Châu, giá vàng SJC được điều chỉnh tăng 700.000 đồng/lượng ở chiều mua và 800.000 đồng/lượng ở chiều bán, hiện niêm yết ở mức 166,2 – 168,8 triệu đồng/lượng.
Đáng chú ý, hệ thống Mi Hồng là đơn vị có mức tăng mạnh nhất khi điều chỉnh tới 1,3 triệu đồng/lượng mỗi chiều, nâng giá giao dịch lên 167,3 – 168,8 triệu đồng/lượng.
Ở phân khúc vàng nhẫn tròn trơn trong phiên chiều nay ghi nhận tăng mạnh tại nhiều hệ thống kinh doanh vàng.
Theo đó, giá vàng nhẫn tại Công ty SJC đồng loạt điều chỉnh tăng 800.000 đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch, lên 165,8 – 168,3 triệu đồng/lượng
Tại Tập đoàn Doji, Phú Quý, hệ thống PNJ và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt điều chỉnh tăng 800.000 đồng/lượng, lên 165,8 – 168,8 triệu đồng/lượng.
Riêng hệ thống Mi Hồng tiếp tục dẫn đầu về biên độ tăng khi nâng giá thêm 1,3 triệu đồng/lượng mỗi chiều, đưa giá vàng nhẫn lên 167,3 – 168,8 triệu đồng/lượng.
Cập nhật chi tiết giá vàng
| 1. DOJI - Cập nhật: 25/04/2026 08:50 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| SJC -Bán Lẻ | 16,630 ▲80K | 16,880 ▲80K |
| Kim TT/AVPL | 16,630 ▲80K | 16,880 ▲80K |
| NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG | 16,580 ▲80K | 16,880 ▲80K |
| Nguyên Liệu 99.99 | 15,540 ▲80K | 15,740 ▲80K |
| Nguyên Liệu 99.9 | 15,490 ▲80K | 15,690 ▲80K |
| NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ | 16,340 ▲80K | 16,740 ▲80K |
| NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ | 16,290 ▲80K | 16,690 ▲80K |
| Nữ trang 99 - Bán Lẻ | 16,220 ▲80K | 16,670 ▲80K |
| 1. PNJ - Cập nhật: 25/04/2026 09:11 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| TPHCM - PNJ | 165,800 ▲800K | 168,800 ▲800K |
| Hà Nội - PNJ | 165,800 ▲800K | 168,800 ▲800K |
| Đà Nẵng - PNJ | 165,800 ▲800K | 168,800 ▲800K |
| Miền Tây - PNJ | 165,800 ▲800K | 168,800 ▲800K |
| Tây Nguyên - PNJ | 165,800 ▲800K | 168,800 ▲800K |
| Đông Nam Bộ - PNJ | 165,800 ▲800K | 168,800 ▲800K |
| 1. AJC - Cập nhật: 25/04/2026 00:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| Miếng SJC Hà Nội | 16,630 ▲10K | 16,880 ▲10K |
| Miếng SJC Nghệ An | 16,630 ▲10K | 16,880 ▲10K |
| Miếng SJC Thái Bình | 16,630 ▲10K | 16,880 ▲10K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội | 16,580 ▲10K | 16,880 ▲10K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An | 16,580 ▲10K | 16,880 ▲10K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình | 16,580 ▲10K | 16,880 ▲10K |
| NL 99.90 | 15,400 | |
| NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình | 15,450 | |
| Trang sức 99.9 | 16,070 ▲10K | 16,770 ▲10K |
| Trang sức 99.99 | 16,080 ▲10K | 16,780 ▲10K |
| 1. SJC - Cập nhật: 22/07/2025 08:32 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,663 ▲1663K | 1,688 ▲1688K |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ | 1,663 ▲1663K | 16,882 ▲16882K |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 1,663 ▲1663K | 16,883 ▲16883K |
| Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 1,658 ▲1658K | 1,683 ▲1683K |
| Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 1,658 ▲1658K | 1,684 ▲1684K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% | 1,638 ▲1638K | 1,668 ▲1668K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% | 158,649 ▲158649K | 165,149 ▲165149K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% | 116,363 ▲116363K | 125,263 ▲125263K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% | 104,685 ▲104685K | 113,585 ▲113585K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% | 93,008 ▲93008K | 101,908 ▲101908K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% | 88,504 ▲88504K | 97,404 ▲97404K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% | 60,813 ▲60813K | 69,713 ▲69713K |
| Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,663 ▲1663K | 1,688 ▲1688K |
| Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,663 ▲1663K | 1,688 ▲1688K |
| Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,663 ▲1663K | 1,688 ▲1688K |
| Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,663 ▲1663K | 1,688 ▲1688K |
| Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,663 ▲1663K | 1,688 ▲1688K |
| Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,663 ▲1663K | 1,688 ▲1688K |
| Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,663 ▲1663K | 1,688 ▲1688K |
| Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,663 ▲1663K | 1,688 ▲1688K |
| Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,663 ▲1663K | 1,688 ▲1688K |
| Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,663 ▲1663K | 1,688 ▲1688K |
| Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,663 ▲1663K | 1,688 ▲1688K |
Dự báo giá vàng ngày mai 26/4/2026
Giá vàng thế giới bước vào phiên cuối tuần với đà tăng đáng chú ý. Theo Kitco, lúc 16h ngày 25/4 (giờ Việt Nam), vàng giao ngay lên mức 4.708,8 USD/ounce, tăng 17 USD/ounce.
Về triển vọng ngày 26/4, giới phân tích nhận định vàng nhiều khả năng tiếp tục duy trì xu hướng tăng nhẹ hoặc đi ngang ở vùng cao. Động lực chính vẫn đến từ bất ổn địa chính trị, đặc biệt là căng thẳng tại Iran chưa hạ nhiệt, kéo theo rủi ro gián đoạn nguồn cung năng lượng. Giá dầu neo cao đang làm gia tăng áp lực lạm phát toàn cầu, qua đó củng cố vai trò “trú ẩn” của vàng.
Bên cạnh đó, lực đỡ dài hạn vẫn khá vững khi các ngân hàng trung ương tiếp tục gom vàng, xu hướng phi đô-la hóa gia tăng và dòng tiền chảy vào các quỹ ETF chưa có dấu hiệu suy yếu. Đây là những yếu tố nền tảng giúp vàng giữ được mặt bằng giá cao, bất chấp biến động ngắn hạn.
Tuy nhiên, áp lực điều chỉnh cũng không thể xem nhẹ. Chỉ số USD-Index đang duy trì quanh 98,53 điểm, trong khi lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 10 năm lên mức 4,31% – những yếu tố thường gây sức ép lên kim loại quý. Cùng với đó, chứng khoán Mỹ khởi sắc có thể khiến một phần dòng tiền rời khỏi kênh trú ẩn.
Trong phiên ngày 26/4, giá vàng được dự báo sẽ dao động trong biên độ hẹp, nghiêng về xu hướng tăng nhẹ nhưng khó bứt phá mạnh. Thị trường đang trong giai đoạn tích lũy, chờ thêm các tín hiệu rõ ràng hơn từ chính sách tiền tệ và diễn biến địa chính trị toàn cầu.