| Giá lúa gạo hôm nay 28/3/2026: Giá lúa gạo ổn định Giá lúa gạo hôm nay 29/3/2026: Giá lúa gạo tiếp tục đi ngang Giá lúa gạo hôm nay 30/3/2026: Giá lúa gạo bình ổn, giao dịch chậm |
Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay một số chủng loại nhích tăng nhẹ, trong khi giá cám quay đầu giảm. Trên thị trường xuất khẩu, Philippines đang tiến sát bước cuối cùng trong kế hoạch áp giá trần 50 peso/kg đối với gạo nhập khẩu, nhằm kiểm soát đà tăng giá trên thị trường nội địa.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 31/3/2026: Giá gạo tăng nhẹ, giá cám giảm |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá giảm tiếp so với hôm qua. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá tương đối ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá biến động.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo không ghi nhận điều chỉnh mới so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 tăng 100 đồng/kg, lên mức 7.950 – 8.050 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 ghi nhận mức tăng 50 đồng/kg, đạt mức 8.350 – 8.450 đồng/kg; gạo OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 hiện duy trì ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 31/3/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại ổn định so với hôm qua. Theo đó, giá gạo Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 31/3/2026 |
Phân khúc nếp không biến động. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 31/3/2026 |
Giá các loại phụ phẩm tăng giảm trái chiều so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm IR 504 tăng 50 đồng/kg, dao động trong khoảng 7.600 – 7.700 đồng/kg. Tuy nhiên, giá cám giảm 150 đồng/kg, về mức 6.850 – 7.050 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương hôm nay, thị trường giao dịch cầm chừng, nhu cầu chậm, lúa có xu hướng quay đầu. Tại Bạc Liêu, giao dịch lúa mới rất chậm, đa số thương lái ngưng mua, một số xin bớt giá giá cao.
Thị trường lúa giao dịch tiếp tục bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, tại An Giang, lúa OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động ở mức 5.100 – 5.200 đồng/kg; Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; IR 50404 giữ ở mức 5.200 – 5.300 đồng/kg; OM 5451 ở mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 5.600 – 5.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 31/3/2026 |
Trong cao điểm thu hoạch vụ Đông Xuân 2025 - 2026, thị trường lúa gạo tại Đồng Tháp đang ghi nhận nghịch lý quen thuộc, sản lượng dồi dào nhưng giá bán lại suy giảm, khiến hiệu quả sản xuất của nông dân bị bào mòn rõ rệt. Đáng lo ngại, tại những khu vực xa trục giao thông, thương lái hạn chế thu mua do chi phí vận chuyển cao, khiến đầu ra càng thêm bế tắc.
Trong khi giá lúa giảm, chi phí đầu vào lại leo thang, giá phân bón, xăng dầu và nhân công thu hoạch đồng loạt tăng, làm biên lợi nhuận bị thu hẹp. Với năng suất trung bình hơn 7,2 tấn/ha, mỗi ha lúa hiện chỉ mang lại khoảng 20 triệu đồng tiền lãi, chưa tính đầy đủ chi phí chăm sóc.
Về tổng thể, toàn tỉnh đã gieo sạ hơn 224.300 ha, sản lượng đạt trên 561.000 tấn. Dù vậy, việc thu hoạch rộ trong thời gian ngắn đang tạo áp lực lớn lên khâu tiêu thụ. Điểm sáng là hơn 20.000 ha lúa vùng ngọt hóa Gò Công không bị ảnh hưởng bởi hạn mặn, góp phần ổn định nguồn cung.
Trước thực trạng này, chính quyền địa phương đã yêu cầu các sở, ngành theo dõi sát thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh thu mua, chế biến, hạn chế tình trạng lúa chín nhưng khó tiêu thụ. Tuy nhiên, về dài hạn, bài toán vẫn nằm ở năng lực liên kết chuỗi và điều tiết cung – cầu. Nếu không có giải pháp căn cơ, vòng luẩn quẩn “được mùa, mất giá” sẽ tiếp tục lặp lại, gây áp lực lớn lên sinh kế nông dân.
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan (TREA), giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan duy trì ổn định ở mức 372 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm dao động trong khoảng 341 - 345 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm ở mức 347 - 351 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Pakistan đang được báo giá ở mức 346 - 350 USD/tấn. Còn tại Việt Nam, giá gạo Jasmine dao động ở mức 419 - 423 USD/tấn, gạo trắng 5% tấm có giá 352 - 356 USD/tấn.
Trước áp lực lạm phát lương thực gia tăng, Chính phủ Philippines đang tiến gần tới quyết định can thiệp mạnh tay vào thị trường khi chuẩn bị áp giá trần 50 peso/kg đối với gạo nhập khẩu – mặt hàng thiết yếu của hàng triệu hộ gia đình.
Động thái này được xem là phản ứng trực tiếp trước tình trạng giá gạo bán lẻ tăng vọt lên 60 - 65 peso/kg, vượt xa khả năng chi trả của người dân. Việc Hội đồng Điều phối Giá Quốc gia liên ngành (NPCC) thông qua đề xuất của Bộ Nông nghiệp cho thấy nhà chức trách đã xác định rõ dấu hiệu “tăng giá bất hợp lý” và nguy cơ thao túng thị trường trong bối cảnh nguồn cung chịu nhiều biến động.
Về bản chất, giá trần là công cụ hành chính nhằm “hãm phanh” đà tăng nóng, song hiệu quả thực tế phụ thuộc lớn vào khả năng thực thi. Khi mức giá bị ép xuống thấp hơn mặt bằng thị trường, nguy cơ phát sinh tình trạng găm hàng, giảm nguồn cung hoặc chuyển sang thị trường phi chính thức là điều không thể bỏ qua. Chính vì vậy, việc bổ sung chế tài xử phạt đi kèm là bước đi bắt buộc để đảm bảo tính răn đe.
Một điểm đáng chú ý là quyết định này diễn ra trong bối cảnh Philippines phụ thuộc nặng nề vào nguồn cung từ Việt Nam, chiếm tới gần 86% lượng gạo nhập khẩu. Trong khi đó, chi phí logistics leo thang, đặc biệt do biến động năng lượng toàn cầu, đang đẩy giá nhập khẩu lên cao.