Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay ổn định. Tuy nhiên, trên thị trường quốc tế, hoạt động xuất khẩu gạo đang đối mặt với lực cản mới, nhiều tuyến xuất khẩu chủ lực bị chậm giao hàng, thậm chí đình trệ do doanh nghiệp không thể chốt hợp đồng trong bối cảnh cước phí biến động mạnh.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 28/3/2026: Giá lúa gạo ổn định |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán yếu, giá gạo ít biến động.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo không biến động so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 hiện ở mức 7.850 – 7.950 đồng/kg; gạo OM 5451 tiếp tục duy trì trong khoảng 8.300 – 8.400 đồng/kg; gạo OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 hiện duy trì ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 28/3/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại bình ổn so với hôm qua. Theo đó, giá gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không đổi. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 28/3/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm IR 504 hiện dao động trong khoảng 7.500 – 7.650 đồng/kg; giá cám ở mức 7.050 – 7.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 28/3/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, giao dịch chậm, nguồn lúa chào bán rải rác tại một số khu vực, giá ổn định. Tại An Giang, bạn hàng vẫn trong trạng thái trầm lắng, giá ít biến động.
Tại Cần Thơ, nguồn lúa thu hoạch tại một số khu vực, giá vững. Tại Cà Mau, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán ít, lúa các loại giá vững giá.
Thị trường lúa giao dịch tiếp tục ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, tại An Giang, lúa Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; IR 50404 giữ mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; OM 5451 ở 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 28/3/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan (TREA), giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan hôm nay vẫn được niêm yết ở mức 372 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm dao động trong khoảng 341 – 345 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm ở mức 347 – 351 USD/tấn. Gạo trắng 5% tấm của Pakistan đang được báo giá ở mức 346 - 350 USD/tấn. Trong khi đó, giá gạo Jasmine của Việt Nam dao động ở mức 419 – 423 USD/tấn, gạo trắng 5% tấm có giá 352 - 356 USD/tấn.
Theo nguồn tin của S&P Global (Platts), thị trường gạo thế giới đang chịu áp lực kép từ giá cước vận chuyển tăng mạnh và tình trạng khan hiếm container, khiến dòng chảy thương mại bị gián đoạn rõ rệt. Trong hai tuần qua, cước tàu rời tới Tây Phi (Abidjan) đã vọt lên 74 - 79 USD/tấn, tăng mạnh so với mặt bằng trước đó. Đáng chú ý, mức giá 60 USD/tấn gần như “biến mất” khỏi thị trường. Biến động cước khiến nhiều nhà xuất khẩu không thể chốt hợp đồng dù nhu cầu vẫn duy trì ở mức cao, đặc biệt với các lô hàng giao tháng 4 - 5.
Không chỉ tàu rời, vận tải container cũng chịu áp lực khi các hãng tàu liên tục áp phụ phí nhiên liệu khẩn cấp. Một số tuyến tới Tây Phi ghi nhận phụ phí lên tới 230 USD/container 20 feet. Việc điều chỉnh đột ngột làm gia tăng rủi ro, buộc các bên phải tạm hoãn giao dịch hoặc đàm phán lại hợp đồng đã ký. Tình trạng “kẹt tàu” cũng xuất hiện tại các cảng như Kakinada hay Kandla, khi nhiều chuyến đã đặt theo giá tháng 2 nhưng chưa thể thực hiện. Trong bối cảnh giá cước leo thang, nhà cung cấp có xu hướng thương lượng lại, làm gián đoạn chuỗi cung ứng.
Yếu tố địa chính trị tiếp tục là biến số lớn. Gián đoạn tại Vịnh Ba Tư khiến tuyến xuất khẩu sang Iraq gần như đình trệ, trong khi chi phí vận chuyển tới Trung Đông tăng mạnh hơn so với châu Phi. Một số tuyến ghi nhận mức tăng trên 50% so với trước xung đột. Trước rủi ro cước phí, nhiều doanh nghiệp chuyển từ hợp đồng CFR sang FOB để giảm gánh nặng logistics. Tuy nhiên, tình trạng thiếu container – thậm chí bị cho là “khan hiếm nhân tạo” đang khiến chi phí tiếp tục bị đẩy cao.
Tại Việt Nam, cước vận chuyển sang Philippines tăng thêm 10 - 20 USD/tấn, góp phần đẩy giá nhập khẩu. Trong khi đó, giá gạo 5% tấm tại châu Á lại giảm 29 - 39 USD/tấn so với cùng kỳ.