Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay không biến động. Thị trường giao dịch cầm chừng, nhu cầu chậm.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 30/3/2026: Giá lúa gạo bình ổn, giao dịch chậm |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá giảm tiếp so với hôm qua. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá tương đối ổn định.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo không ghi nhận điều chỉnh mới so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 hiện ở mức 7.850 – 7.950 đồng/kg; gạo OM 5451 tiếp tục duy trì trong khoảng 8.300 – 8.400 đồng/kg; gạo OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 hiện duy trì ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 30/3/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại không biến động so với hôm qua. Theo đó, giá gạo Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 30/3/2026 |
Phân khúc nếp bình ổn. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm không đổi so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám ở mức 7.050 – 7.200 đồng/kg; giá tấm IR 504 hiện dao động trong khoảng 7.500 – 7.650 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 30/3/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương hôm nay, thị trường giao dịch cầm chừng, nhu cầu chậm, lúa có xu hướng quay đầu. Tại Bạc Liêu, giao dịch lúa mới rất chậm, đa số thương lái ngưng mua, một số xin bớt giá giá cao.
Thị trường lúa giao dịch ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, tại An Giang, lúa Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; IR 50404 giữ mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; OM 5451 ở 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 30/3/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan (TREA), giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan tiếp tục được giao dịch ở mức 372 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm dao động trong khoảng 341 – 345 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm ở mức 347 – 351 USD/tấn. Gạo trắng 5% tấm của Pakistan đang được báo giá ở mức 346 - 350 USD/tấn. Trong khi đó, giá gạo Jasmine của Việt Nam dao động ở mức 419 – 423 USD/tấn, gạo trắng 5% tấm có giá 352 - 356 USD/tấn.
Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông đang tạo ra cú sốc mới đối với chuỗi cung ứng lương thực toàn cầu, trong đó xuất khẩu gạo của Thái Lan chịu tác động trực tiếp và rõ nét. Việc Iran đóng cửa eo biển Hormuz – tuyến hàng hải chiến lược vận chuyển năng lượng và hàng hóa – đã khiến hoạt động logistics bị gián đoạn, đẩy chi phí vận tải tăng cao và làm suy giảm khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp.
Theo số liệu năm 2025, Thái Lan xuất khẩu khoảng 1,34 triệu tấn gạo sang Trung Đông, chiếm 17% tổng kim ngạch, với các thị trường chủ lực như Iraq và Yemen. Tuy nhiên, trong tháng gần đây, lượng hàng xuất khẩu sang khu vực này đã bắt đầu sụt giảm khi chi phí nhiên liệu và bảo hiểm leo thang. Đáng chú ý, phí bảo hiểm rủi ro tăng tới 40%, khiến giá gạo Thái Lan kém cạnh tranh hơn so với các đối thủ.
Không chỉ dừng ở yếu tố chi phí, rủi ro lớn hơn nằm ở khả năng đứt gãy thị trường. Theo đánh giá của cơ quan chức năng, trong kịch bản xấu nhất, phần lớn lượng gạo xuất khẩu sang Trung Đông có thể bị mất hoàn toàn nếu tình hình không sớm cải thiện. Điều này đặt ra thách thức lớn cho mục tiêu xuất khẩu năm nay, vốn đã chịu áp lực khi dự kiến khó đạt mốc 7 triệu tấn, giảm so với mức 7,9 triệu tấn của năm 2025 và có nguy cơ chạm đáy 5 năm.
Bên cạnh yếu tố địa chính trị, xuất khẩu gạo Thái Lan còn đối mặt với áp lực kép từ đồng baht tăng giá và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các quốc gia như Ấn Độ và Việt Nam. Trong bối cảnh đó, chiến lược chuyển hướng thị trường đang được đẩy nhanh, với trọng tâm là châu Á và châu Phi – hai khu vực lần lượt chiếm 22% và 33% tổng lượng xuất khẩu năm 2025.