| Giá lúa gạo hôm nay 30/12/2025: Gạo Việt xuất khẩu giảm giá Giá lúa gạo hôm nay 31/12/2025: Giá lúa gạo đi ngang, giao dịch chậm Giá lúa gạo hôm nay 1/1/2026: Giá lúa gạo duy trì mặt bằng ổn định |
Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tiếp tục đi ngang khi giao dịch diễn ra chậm, các kho mua cầm chừng do nguồn lúa cuối vụ không còn nhiều.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 2/1/2026: Giá lúa gạo đi ngang, giao dịch chậm trong bối cảnh nguồn cuối vụ suy giảm |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thị trường tiếp tục trầm lắng, ít kho mua, giá bình ổn. Tại An Giang, đa số kho lớn ít mua, giao dịch yếu.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch yếu, gạo các loại giá ít biến động.
Giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đi ngang. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 dao động ở mức 7.600 – 7.800 đồng/kg; Sóc thơm hiện ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; OM 5451 hiện duy trì ở mức 8.150 – 8.300 đồng/kg; gạo nguyện liệu OM 380 hiện ở mức 7.200 – 7.300 đồng/kg; IR 504 tiếp tục được giao dịch ở mức 7.600 – 7.700 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động trong khoảng 8.800 – 9.050 đồng/kg; OM 18 hiện ở mức 8.400 - 8.600 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 2/1/2026 |
Tại các chợ dân sinh, mặt hàng gạo các loại bình ổn. Cụ thể, gạo Hương Lài niêm yết 22.000 đồng/kg; gạo thường hiện ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen hiên ở mức cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 - 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 2/1/2026 |
Phân khúc nếp không đổi so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp IR 4625 (khô) ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô dao động ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 2/1/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm duy trì ổn định. Cụ thể, giá cám dao động trong khoảng 6.550 – 6.650 đồng/kg; giá tấm OM 5451 ổn định ở mức 7.500 – 7.650 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, lúa cuối vụ, giao dịch ít. Tại Vĩnh Long, nguồn lúa còn ít, sức mua chậm, giá lúa ít biến động.
Tại An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ, Tây Ninh, nguồn lúa cuối vụ còn ít, giao dịch mua bán trầm lắng, giá lúa các loại tương đối ổn định.
Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay không ghi nhận điều chỉnh mới so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa OM 18 (tươi) và Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) trong khoảng 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; giá lúa tươi OM 4218 dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 2/1/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo tiếp tục ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine của Việt Nam hiện ở mức 446 - 450 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm từ 420 - 440 USD/tấn và gạo trắng 5% tấm đạt 364 - 368 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm dao động trong khoảng 401 - 405 USD/tấn, cao nhất trên thị trường. Ở Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm cũng giữ nguyên ở mức 352 - 356 USD/tấn, giá gạo đồ 5% tấm đạt 343 - 347 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Pakistan được chào bán trong khoảng 356 - 360 USD/tấn, cũng là mức thấp nhất trên thị trường.
Theo Bangkok Post, xuất khẩu gạo Thái Lan đang đối mặt áp lực lớn khi đồng baht tăng giá mạnh, làm suy giảm năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Bộ Thương mại Thái Lan dự báo xuất khẩu gạo năm tới chỉ đạt khoảng 7 triệu tấn, giảm so với khoảng 8 triệu tấn năm 2025, trong bối cảnh nguồn cung dồi dào từ Ấn Độ và đồng nội tệ Thái Lan đang mạnh hơn 10–20% so với các đối thủ (Bangkok Post). Từ đầu năm đến nay, đồng baht đã tăng 9,4%, lên mức cao nhất trong 4 năm so với USD, trở thành đồng tiền tăng giá mạnh thứ hai tại châu Á.
Dù nhu cầu cuối năm giúp xuất khẩu gạo năm 2025 ước đạt 7,88 – 8 triệu tấn, vượt mục tiêu 7,5 triệu tấn, nhưng con số này vẫn thấp hơn đáng kể so với gần 10 triệu tấn năm 2024. Trong 11 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu gạo Thái Lan đã giảm 21% về lượng và 30,3% về giá trị, do Ấn Độ xả kho dự trữ, Philippines tạm ngừng nhập khẩu và tác động kép từ giá gạo giảm cùng đồng baht mạnh. Trước áp lực này, Thái Lan đang đẩy mạnh các hợp đồng song phương và mở rộng thị trường Trung Đông, châu Phi, châu Âu nhằm bù đắp đà suy giảm truyền thống.