Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay không biến động. Thị trường giao dịch chậm, giá ổn định.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 16/3/2026: Giá lúa gạo không biến động, thị trường giao dịch chậm |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giáo dịch không nhiều, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, lượng mua bán chậm, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán yếu, giá gạo ít biến động.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu duy trì ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 hiện ở mức 7.900 – 7.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 hiện giao dịch ở mức 8.450 – 8.550 đồng/kg; OM 380 hiện duy trì ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 16/3/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại tiếp tục bình ổn so với hôm qua. Giá Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 16/3/2026 |
Phân khúc nếp không tiếp tục bình ổn. Theo đó, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám dao động từ 7.900 – 8.100 đồng/kg; giá tấm thơm ở mức 7.650 – 7.800 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 16/3/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn ít, giá chững. Tại Cần Thơ, nguồn có rải rác tập trung ở một số khu vực thu hoạch muộn, giá chững.
Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, bạn hàng hỏi mua ít, giá ít biến động.
Thị trường lúa giao dịch đứng giá so với phiên hôm qua. Cụ thể, tại An Giang, lúa OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; IR 50404 giữ mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; OM 5451 ở 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 16/3/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine của Việt Nam vẫn duy trì trong khoảng 430 - 434 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm đạt 400 - 415 USD/tấn. Riêng gạo trắng 5% tấm giảm 1 USD/tấn, xuống còn 356 - 360 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm tiếp tục được các thương nhân chào giá ở mức 377 - 381 USD/tấn. Giá gạo trắng 5% tấm Ấn Độ được giao dịch ở mức 349 - 353 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm đạt 349 - 353 USD/tấn. Tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm dao động trong khoảng 357 - 361 USD/tấn.
Theo Các Hiệp hội nông nghiệp Thái Lan, nguồn cung nhiên liệu và phân bón – phần lớn nhập khẩu từ khu vực Trung Đông đứng trước nguy cơ gián đoạn nếu căng thẳng địa chính trị kéo dài. Ông Kriengsak Tapananon, cố vấn Hiệp hội Nông dân Thái Lan, cảnh báo nếu giá nhiên liệu và phân bón tiếp tục leo thang, người trồng lúa sẽ phải đối mặt với áp lực tài chính lớn hơn.
Hiện tại, lượng phân bón tồn kho trong nước chỉ đủ đáp ứng nhu cầu khoảng 2 - 3 tháng, trong khi triển vọng nguồn cung vẫn chưa rõ ràng do bất ổn tại Trung Đông. Trong khi chi phí có xu hướng tăng, giá lúa nội địa lại giảm mạnh do mùa vụ bội thu và nguồn cung toàn cầu dồi dào. Dữ liệu từ Bộ Nông nghiệp Thái Lan cho thấy giá lúa tươi tiêu chuẩn tại vùng Đông Bắc – khu vực sản xuất lúa lớn nhất của nước này – vào tháng 1 chỉ còn khoảng 6.800 baht/tấn, giảm gần một nửa so với mức 11.000 baht/tấn cùng kỳ năm trước.
Tình trạng này khiến nhiều nông dân phải tìm cách tích trữ nhiên liệu để bảo đảm vận hành máy móc trong mùa thu hoạch. Tuy nhiên, một số trạm xăng đã hạn chế bán số lượng lớn nhằm ngăn tình trạng đầu cơ tích trữ. Theo các chuyên gia, áp lực đối với nông dân có thể lan rộng tới toàn bộ nền kinh tế Thái Lan khi khu vực nông nghiệp hiện chiếm khoảng một phần tư lực lượng lao động của quốc gia này.
Gánh nặng nợ hộ gia đình vốn đã ở mức cao cũng khiến nhiều hộ nông dân phải cân nhắc giảm diện tích gieo trồng, trì hoãn trả nợ hoặc vay thêm vốn để duy trì sản xuất. Theo ông Kriengsak, trong chuỗi giá trị nông nghiệp, nông dân luôn là nhóm chịu rủi ro lớn nhất khi doanh thu giảm hoặc chi phí tăng.