Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay nhìn chung duy trì trạng thái ổn định so với ngày trước đó. Tuy nhiên, trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Thái Lan sang khu vực Trung Đông bị đình trệ do xung đột leo thang trong khu vực.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 15/3/2026: Giá lúa gạo bình ổn, gạo Thái Lan gặp khó tại Trung Đông |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo về ít, gạo nguyên liệu ổn định. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, giá không biến động nhẹ.
Kênh chợ Sa Đéc, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu không đổi so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 hiện ở mức 7.900 – 7.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 hiện giao dịch ở mức 8.450 – 8.550 đồng/kg; OM 380 hiện duy trì ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 15/3/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại tiếp tục bình ổn so với hôm qua. Giá Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không biến động. Theo đó, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 15/3/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám dao động từ 7.900 – 8.100 đồng/kg; giá tấm thơm ở mức 7.650 – 7.800 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 15/3/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương hôm nay, lúa giao dịch ít, hầu hết lúa đã cọc. Tại Đồng Tháp, lúa Đông Xuân sớm nông dân chào bán lai rai, giao dịch cầm chừng.
Thị trường lúa giao dịch bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, tại An Giang, lúa IR 50404 giữ mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; OM 5451 ở 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 15/3/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine của Việt Nam vẫn duy trì trong khoảng 430 – 434 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm đạt 400 – 415 USD/tấn. Riêng gạo trắng 5% tấm giảm 1 USD/tấn, xuống còn 356 - 360 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm tiếp tục được các thương nhân chào giá ở mức 377 – 381 USD/tấn. Giá gạo trắng 5% tấm Ấn Độ được giao dịch ở mức 349 – 353 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm đạt 349 – 353 USD/tấn. Còn tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm dao động trong khoảng 357 - 361 USD/tấn.
Xung đột leo thang tại Trung Đông đang tạo ra những cú sốc mới đối với thương mại lương thực toàn cầu, trong đó xuất khẩu gạo của Thái Lan – một trong những quốc gia cung ứng gạo lớn nhất thế giới bắt đầu chịu tác động trực tiếp.
Theo Bloomberg, hoạt động vận chuyển gạo từ Thái Lan sang khu vực Trung Đông đang rơi vào tình trạng đình trệ khi căng thẳng quân sự khiến các tuyến hàng hải trở nên rủi ro hơn, đặc biệt là khu vực eo biển Hormuz – tuyến vận tải chiến lược kết nối Vịnh Ba Tư với thị trường thế giới.
Hai tàu chở khoảng 80.000 tấn gạo xuất khẩu sang Iraq đã phải tạm dừng tại cảng Bangkok trong tuần qua sau khi người mua yêu cầu dỡ hàng trở lại kho do lo ngại rủi ro vận chuyển. Ông Chookiat Ophaswongse - Chủ tịch danh dự Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan - cho biết, tình hình giao dịch gần như đóng băng khi các nhà nhập khẩu tạm dừng ký hợp đồng mới.
Theo ông Chookiat, các chuyến hàng sang Trung Đông có thể bị đình chỉ trong nhiều tháng vì không ai chắc điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Rủi ro vận tải gia tăng cũng khiến phụ phí chiến tranh và cước vận chuyển tăng mạnh, trong bối cảnh giá nhiên liệu toàn cầu biến động theo tình hình địa chính trị. Điều này khiến chi phí xuất khẩu gạo Thái Lan tăng thêm, làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất khẩu.
Không chỉ vậy, đồng baht mạnh lên so với USD cũng khiến gạo Thái Lan trở nên đắt đỏ hơn trên thị trường quốc tế. Hiện gạo trắng 5% tấm của nước này được chào bán khoảng 392 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với gạo Việt Nam (356–360 USD/tấn) và Ấn Độ (350–354 USD/tấn).
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và nhu cầu toàn cầu suy yếu do nguồn cung dồi dào, Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan dự báo lượng xuất khẩu của nước này có thể giảm xuống khoảng 7 triệu tấn trong năm nay, thấp nhất trong vòng 5 năm.