Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay nhìn chung không biến động, giao dịch duy trì ổn định. Trong khi đó, trên thị trường khu vực, nhu cầu nhập khẩu từ Philippines tiếp tục tăng mạnh. Theo số liệu của Cục Công nghiệp Thực vật Philippines (BPI), tính đến ngày 26/2, nước này đã nhập khẩu 707.711 tấn gạo, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm trước.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 12/3/2026: Giá lúa gạo ổn định, Philippines tăng mạnh nhập khẩu gạo Việt |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, nhiều kho lớn không mua vào, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, đa số kho lớn ngừng mua, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán yếu, giá gạo ít biến động.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu ổn định so với phiên hôm trước. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 5451 dao động trong khoảng 8.550 – 8.700 đồng/kg; gạo OM 380 ổn định trong khoảng 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 giữ quanh mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; CL 555 duy trì ở mức 7.900 – 8.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 12/3/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại đi ngang so với hôm qua. Giá gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không đổi. Theo đó, nếp khô 9.500 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 12/3/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám duy trì ở mức 7.950 – 8.150 đồng/kg; giá tấm thơm duy trì ở mức 7.650 – 7.800 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 12/3/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, giao dịch chậm, nguồn lúa chào bán rải rác tại một số khu vực, giá ổn định. Tại An Giang, bạn hàng vẫn trong trạng thái ngưng mua, giao dịch đầu tuần trầm lắng, giá ít biến động.
Tại Cần Thơ, nguồn lúa thu hoạch tại một số khu vực, giá vững. Tại Cà Mau, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán ít, lúa các loại giá vững giá.
Thị trường lúa giao dịch bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, tại An Giang, lúa Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; IR 50404 giữ mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; OM 5451 ở 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 12/3/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine của Việt Nam tiếp tục được chào bán với giá 430 – 434 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm đạt 400 – 415 USD/tấn và gạo trắng 5% tấm dao động quanh mốc 357 - 361 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm cũng ổn định ở mức 381 – 385 USD/tấn, không đổi so với ngày hôm trước. Tương tự, giá gạo trắng 5% tấm Ấn Độ vẫn duy trì trong khoảng 351 – 355 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm đạt 350 – 354 USD/tấn. Trong khi đó, giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan dao động trong khoảng 362 - 366 USD/tấn.
Số liệu mới nhất từ Cục Công nghiệp Thực vật Philippines (BPI), được Bworldonline dẫn lại, cho thấy xu hướng nhập khẩu gạo của nước này đang tăng nhanh hơn dự kiến trong những tháng đầu năm 2026. Tính đến ngày 26/2, Philippines đã nhập khẩu 707.711 tấn gạo, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm trước và vượt xa dự báo khoảng 600.000 tấn của Bộ Nông nghiệp Philippines (DA) cho 2 tháng đầu năm.
Đà tăng này chủ yếu đến từ lượng nhập khẩu mạnh trong tháng 1/2026 đạt 374.768 tấn, tăng gần 34% so với cùng kỳ. Sang tháng 2, dù chưa kết thúc tháng, khối lượng nhập khẩu đã đạt 332.944 tấn, cao hơn 22,9% so với toàn bộ tháng 2 năm ngoái. Theo BPI, con số này tương đương 74,95% tổng lượng dự kiến dựa trên các giấy phép nhập khẩu đã được phê duyệt.
Về cơ cấu nguồn cung, Việt Nam tiếp tục giữ vị trí áp đảo trên thị trường gạo Philippines với 622.483 tấn, chiếm gần 88% tổng lượng nhập khẩu. Khoảng cách với các nhà cung cấp khác khá lớn khi Thái Lan chỉ chiếm 6,17%, còn Myanmar đạt 5,04%.
Một điểm đáng chú ý là gạo thường chiếm tới 97,1% tổng lượng nhập khẩu, nhu cầu chủ yếu của Philippines vẫn tập trung vào phân khúc tiêu dùng đại trà nhằm bình ổn giá lương thực trong nước.
Tuy nhiên, triển vọng nhập khẩu trong các tháng tới có thể chậm lại. Bộ Nông nghiệp Philippines cho biết các thương nhân đã đồng ý giảm lượng nhập xuống khoảng 150.000 tấn mỗi tháng trong tháng 3 và tháng 4, nhằm tạo dư địa cho vụ thu hoạch nội địa. Nếu kế hoạch này được thực hiện, tổng lượng nhập khẩu hai tháng chỉ khoảng 300.000 tấn, giảm tới 65,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ở góc độ cung cầu, lượng tồn kho gạo của Philippines tính đến ngày 1/2 đạt 2,11 triệu tấn. Dù giảm gần 10% so với tháng trước, con số này vẫn tăng 5,3% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ dự trữ tại Cơ quan Lương thực Quốc gia (NFA) và các hộ gia đình tăng mạnh.