Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tiếp tục tăng nhẹ. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO), chỉ số giá gạo toàn cầu đã tăng tháng thứ ba liên tiếp và lên mức cao nhất trong vòng 7 tháng.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 10/3/2026: Giá gạo tiếp tục tăng, thế giới lập đỉnh 7 tháng |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá biến động nhẹ so với hôm qua. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá tương đối ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục tăng nhẹ 100 đồng/kg so với ngày hôm trước. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 5451 tăng thêm 100 đồng/kg, dao động trong khoảng 8.550 – 8.700 đồng/kg. Tuy nhiên, gạo nguyên liệu OM 380 ổn định trong khoảng 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 giữ quanh mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; CL 555 duy trì ở mức 7.900 – 8.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 11/3/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại không biến động so với hôm qua. Giá gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 11/3/2026 |
Phân khúc nếp không biến động. Theo đó, nếp khô 9.500 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 11/3/2026 |
Giá các loại phụ phẩm tiếp đà tăng so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám tăng nhẹ 50 đồng/kg, lên mức 7.950 – 8.150 đồng/kg. Trong khi đó, giá tấm thơm duy trì ở mức 7.650 – 7.800 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn ít, giá chững. Tại Cần Thơ, nguồn có rải rác tập trung ở một số khu vực thu hoạch muộn, giá chững.
Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, bạn hàng hỏi mua ít, giá ít biến động.
Thị trường lúa giao dịch cầm chừng, song giá bình ổn so với phiên hôm qua. Tại An Giang, lúa Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; IR 50404 giữ mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; OM 5451 ở 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 11/3/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine của Việt Nam vẫn ổn định ở mức 430 – 434 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm có giá 400 – 415 USD/tấn, trong khi gạo trắng 5% tấm đạt 357 - 361 USD/tấn.
Tương tự, gạo trắng 5% tấm của Thái Lan tiếp tục đi ngang ở mức 381 – 385 USD/tấn. Trong khi đó, giá gạo trắng 5% tấm Ấn Độ duy trì trong khoảng 351 – 355 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm đạt 350 – 354 USD/tấn. Còn tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm dao động trong khoảng 362 - 366 USD/tấn.
Theo báo cáo mới nhất của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), chỉ số giá gạo toàn cầu trong tháng 2 tăng nhẹ 0,4% lên 103,2 điểm, so với mức 102,8 điểm của tháng trước. Đây là tháng tăng thứ ba liên tiếp kể từ cuối năm 2025, đồng thời đánh dấu mức cao nhất của thị trường trong vòng 7 tháng trở lại đây.
Diễn biến này phản ánh bức tranh khá phân hóa của thị trường gạo quốc tế, khi nhu cầu đối với các dòng gạo chất lượng cao vẫn duy trì ổn định, trong khi hoạt động giao dịch ở nhóm gạo phổ thông diễn ra chậm hơn.
Đáng chú ý, giá gạo japonica tăng mạnh 3,7%, đạt 100,3 điểm. Nguyên nhân chủ yếu đến từ nhu cầu ổn định đối với gạo Calrose tại khu vực Viễn Đông, cùng với nguồn cung theo mùa bị thu hẹp tại Việt Nam. Trong khi đó, giá gạo thơm cũng tăng 1,8% lên 103,1 điểm, khi gạo basmati của Pakistan ghi nhận thêm các hợp đồng xuất khẩu sang Trung Đông, đồng thời nhu cầu nội địa tại nước này duy trì ở mức cao.
Trái ngược với xu hướng trên, nhóm gạo phổ biến như indica và gạo nếp lại có diễn biến trầm lắng hơn. Chỉ số giá gạo nếp giảm 1,8% xuống còn 105,9 điểm, còn gạo indica gần như đi ngang ở mức 103,3 điểm. Theo FAO, nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động giao dịch quốc tế chậm lại trong kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, khi nhiều doanh nghiệp và nhà nhập khẩu tạm thời trì hoãn ký kết hợp đồng mới. Bên cạnh đó, thị trường cũng đang chờ nguồn cung từ vụ thu hoạch mới tại các quốc gia sản xuất lớn như Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam.
Ở chiều thương mại, Philippines tiếp tục là thị trường nhập khẩu quan trọng của gạo Việt Nam. Theo số liệu từ Cục Công nghiệp Thực vật Philippines (BPI), tính đến ngày 26/2, quốc gia này đã nhập khẩu 707.711 tấn gạo, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Việt Nam chiếm tới 87,96% thị phần, tương đương hơn 622.000 tấn.
Tuy nhiên, nhu cầu nhập khẩu của Philippines có thể giảm trong ngắn hạn khi nước này dự kiến cắt giảm lượng mua xuống khoảng 150.000 tấn/tháng trong tháng 3 và 4 nhằm ưu tiên tiêu thụ lúa gạo nội địa, có thể khiến giao dịch gạo toàn cầu chững lại trong thời gian tới.