Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tăng nhẹ với gạo OM 5451. Trên thị trường thế giới, các nhà xuất khẩu Ấn Độ đang gặp khó khăn trong việc tìm tàu vận chuyển gạo basmati sang Trung Đông do căng thẳng khu vực, khiến nhiều lô hàng bị chậm trễ hoặc mắc kẹt tại cảng.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 10/3/2026: Giá gạo nguyên liệu và và phụ phẩm tăng nhẹ |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán chậm, giá gạo các loại ít biến động. Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán yếu, giá gạo ít biến động.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tăng nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 5451 tăng 200 đồng/kg, lên mức 8.450 – 8.600 đồng/kg. Trong khi đó, gạo nguyên liệu OM 380 ổn định trong khoảng 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 giữ quanh mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; CL 555 duy trì ở mức 7.900 – 8.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 10/3/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại không biến động so với hôm qua. Giá gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp bình ổn. Theo đó, nếp khô 9.500 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 10/3/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm tăng nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm thơm tăng nhẹ 50 đồng/kg, đạt 7.650 – 7.800 đồng/kg. Tuy nhiên, giá cám hiện ở mức 7.900 – 8.100 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 10/3/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa còn ít, sức mua chậm khiến giá hầu như không biến động. Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa nhìn chung giữ ổn định.
Thị trường lúa giao dịch cầm chừng, song giá duy trì ổn định so với phiên hôm qua. Tại An Giang, lúa Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; IR 50404 giữ mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; OM 5451 ở 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 10/3/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine của Việt Nam tiếp tục được báo giá ở mức 430 – 434 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm đạt 400 – 415 USD/tấn và gạo trắng 5% tấm có giá 357 - 361 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm dao động trong khoảng 381 – 385 USD/tấn, đây cũng là mức cao nhất trong khu vực. Trong khi đó, giá gạo trắng 5% tấm Ấn Độ duy trì trong khoảng 351 – 355 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm đạt 350 – 354 USD/tấn. Còn tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm dao động trong khoảng 362 - 366 USD/tấn.
Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông đang tạo ra cú sốc mới đối với chuỗi cung ứng gạo toàn cầu, khi các nhà xuất khẩu Ấn Độ – quốc gia dẫn đầu thế giới về gạo basmati gặp khó khăn nghiêm trọng trong việc vận chuyển hàng hóa. Sau các cuộc tấn công của Mỹ và Israel vào Iran, rủi ro an ninh trên các tuyến hàng hải trọng yếu gia tăng, khiến nhiều hãng tàu hạn chế hoạt động hoặc điều chỉnh lịch trình, kéo theo tình trạng ùn ứ hàng hóa tại các cảng của Ấn Độ.
Theo Hiệp hội Các Nhà Xuất Khẩu Gạo Toàn Ấn Độ, hiện có khoảng 200.000 – 250.000 tấn gạo basmati đang bị mắc kẹt tại các cảng do thiếu tàu vận chuyển. Con số này chưa bao gồm lượng hàng đang trên đường giao nhận hoặc tồn trong kho bãi tại khu vực cảng. Tình trạng tắc nghẽn khiến doanh nghiệp vừa chịu áp lực chi phí lưu kho, vừa phát sinh thêm lãi vay do vòng quay hàng hóa bị kéo dài.
Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu đã đề nghị chính phủ hỗ trợ thông qua việc miễn phí lưu bãi và giảm bớt gánh nặng tài chính trong giai đoạn gián đoạn vận tải. Điều này càng trở nên cấp thiết khi Trung Đông – thị trường tiêu thụ gạo basmati lớn nhất của Ấn Độ – có giá trị thương mại lên tới hàng tỷ USD mỗi năm. Chỉ riêng 9 tháng tính đến tháng 12/2025, Ấn Độ đã xuất khẩu khoảng 4,7 triệu tấn gạo basmati, trị giá gần 4 tỷ USD.
Không chỉ thiếu tàu, chi phí vận chuyển cũng đang tăng mạnh. Một số hãng tàu đã áp phụ phí khoảng 2.000 USD cho mỗi container, trong khi phí bảo hiểm hàng hải cũng được dự báo tăng theo rủi ro khu vực.
Đáng chú ý, tác động của gián đoạn vận tải không chỉ dừng ở gạo basmati mà có thể lan rộng sang nhiều mặt hàng nông sản khác. Nếu căng thẳng địa chính trị kéo dài, thị trường thậm chí có thể chứng kiến làn sóng mua tích trữ nhằm phòng ngừa rủi ro nguồn cung, qua đó làm gia tăng biến động giá trên thị trường lương thực toàn cầu.