Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tiếp tục duy trì xu hướng đi ngang so với phiên trước, thị trường lúa gạo trong nước chưa ghi nhận biến động đáng kể về giá. Trong khi đó, trên thị trường khu vực, xuất khẩu gạo của Campuchia đang tăng trưởng mạnh ngay từ đầu năm.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 13/3/2026: Giá lúa gạo đi ngang, xuất khẩu gạo Campuchia tăng vọt |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục đi ngang so với ngày hôm trước. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 5451 hiện ở mức 8.550 – 8.700 đồng/kg; gạo OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; CL 555 duy trì ở mức 7.900 – 8.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 13/3/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại không biến động so với hôm qua. Giá Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp bình ổn. Theo đó, nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 13/3/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm đứng giá so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám duy trì ở mức 7.950 – 8.150 đồng/kg; giá tấm thơm duy trì ở mức 7.650 – 7.800 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 13/3/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn lúa chào bán rải rác tại một số khu vực, giá ổn định.
Thị trường lúa giao dịch duy trì ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, tại An Giang, lúa IR 50404 giữ mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; OM 5451 ở 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 13/3/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine của Việt Nam vẫn duy trì trong khoảng 430 – 434 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm đạt 400 – 415 USD/tấn và gạo trắng 5% tấm dao động quanh mốc 357 - 361 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm tiếp tục được các thương nhân chào giá ở mức 381 – 385 USD/tấn. Giá gạo trắng 5% tấm Ấn Độ được giao dịch ở mức 351 – 355 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm đạt 350 – 354 USD/tấn. Còn tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm dao động trong khoảng 362 - 366 USD/tấn.
Trong bối cảnh thương mại nông sản khu vực đang có nhiều biến động, xuất khẩu gạo của Campuchia ghi nhận mức tăng trưởng mạnh ngay từ đầu năm 2026. Theo báo cáo của Liên đoàn Lúa gạo Campuchia (CRF) được Báo Khmer Times dẫn lại, trong hai tháng đầu năm, nước này đã xuất khẩu 247.822 tấn gạo xay xát, thu về 142 triệu USD, tăng tới 83% về khối lượng và 34% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Đáng chú ý, gạo Campuchia hiện đã hiện diện tại 51 thị trường thông qua 55 doanh nghiệp xuất khẩu, phản ánh nhu cầu ổn định đối với mặt hàng này tại châu Á, châu Âu và nhiều khu vực khác. Trong đó, châu Âu tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất với 64.134 tấn, trị giá khoảng 46 triệu USD. Trung Quốc đứng thứ hai với 51.384 tấn, tương đương 36,31 triệu USD. Các nước ASEAN cũng đóng góp đáng kể với tổng lượng nhập khẩu hơn 112.000 tấn, trong khi nhiều thị trường ngoài khu vực như châu Phi, Trung Đông, Mỹ, Canada, Australia và New Zealand tiêu thụ hơn 20.000 tấn.
Về cơ cấu sản phẩm, gạo thơm vẫn chiếm ưu thế khi đóng góp hơn 59% tổng lượng xuất khẩu, tiếp theo là gạo tấm và các dòng gạo trắng hạt dài, gạo đồ và gạo hữu cơ. Theo Tổng thư ký CRF Lun Yeng, đà tăng trưởng xuất khẩu gần đây chủ yếu nhờ các gói hỗ trợ tài chính khẩn cấp của Chính phủ dành cho doanh nghiệp xay xát và xuất khẩu, giúp đảm bảo nguồn vốn thu mua lúa trong mùa thu hoạch.
Song song với xuất khẩu gạo xay xát, Campuchia còn xuất khẩu khoảng 873.880 tấn lúa trong hai tháng đầu năm, chủ yếu sang Việt Nam, với giá trị khoảng 196 triệu USD.
Năm 2025, Campuchia đã xuất khẩu hơn 940.000 tấn gạo sang 75 thị trường, thu về 602 triệu USD. Với các chính sách hỗ trợ tài chính, hạ tầng và giảm chi phí sản xuất cho nông dân, chính phủ nước này đang kỳ vọng ngành lúa gạo tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong tăng trưởng nông nghiệp và xuất khẩu.