Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay ghi nhận nhích nhẹ thêm 100 đồng/kg với lúa IR 50404. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, nhóm phụ phẩm lại diễn biến trái chiều.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 10/4/2026: Giá lúa nhích nhẹ, phụ phẩm biến động trái chiều |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, nhiều kho lớn giao dịch chậm, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo về lượng ít, giá gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán yếu, giá gạo ít biến động.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 duy trì ở mức 8.100 – 8.200 đồng/kg; gạo OM 5451 hiện ở mức 8.650 – 8.750 đồng/kg; gao OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 10/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, hiện gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 10/4/2026 |
Phân khúc nếp tiếp tục duy trì ổn định. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 10/4/2026 |
Giá các loại phụ phẩm tăng - giảm trái chiều so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm IR 504 tăng nhẹ 50 đồng/kg, lên mức 7.600 - 7.750 đồng/kg. Tuy nhiên, giá cám quay đầu giảm 50 đồng/kg, xuống còn 6.850 - 7.000 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn về ít, giá biến động nhẹ. Tại Cần Thơ, nguồn có rải rác, giao dịch không nhiều, giá ổn định.
Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, bạn hàng hỏi mua ít, giá biến động.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tiếp đà tăng nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa IR 50404 (tươi) điều chỉnh tăng nhẹ 100 đồng/kg, lên 5.400 - 5.600 đồng/kg. Trong khi đó, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 hiện ở mức 5.800 - 6.100; giá lúa OM 5451 (tươi) đạt 5.500 - 5.600 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg; lúa OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động ở mức 5.100 – 5.200 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 10/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo trắng 5% tấm của Việt Nam tăng nhẹ 2 USD/tấn so với ngày hôm trước, lên mức 368 - 372 USD/tấn. Ngoài ra, giá gạo Jasmine tăng 4 USD/tấn, lên 447 – 451 USD/tấn. Tuy nhiên, gạo thơm 5% tấm vẫn ổn định ở mức 440 – 445 USD/tấn.
Tương tự, giá gạo trắng 5% tấm Thái Lan tăng thêm 5 USD/tấn, lên 374 – 375 USD/tấn. Tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm tiếp tục tăng 2 USD/tấn, dao động từ 347 - 351 USD/tấn. Riêng tại Ấn Độ, gạo trắng 5% tấm giữ ổn định ở mức 335 – 339 USD/tấn, trong khi gạo đồ 5% tấm đạt 343 – 347 USD/tấn.
Xung đột tại vùng Vịnh đang tạo ra cú sốc lan rộng tới chuỗi cung ứng nông nghiệp, trong đó gạo basmati là một trong những mặt hàng chịu tác động rõ nét nhất. Theo tờ Business Recorder, gián đoạn vận chuyển năng lượng và vật tư đầu vào đang trực tiếp ảnh hưởng tới cả thương mại lẫn sản xuất tại Nam Á.
Sau khi đạt đỉnh 6,85 triệu tấn trong niên vụ 2024 - 2025, xuất khẩu gạo basmati toàn cầu được dự báo giảm xuống còn khoảng 6,4 - 6,5 triệu tấn. Riêng Ấn Độ – nhà cung cấp lớn nhất có thể giảm tới 9% do hàng hóa bị đình trệ, chi phí vận tải và bảo hiểm tăng cao, cùng các vướng mắc thanh toán tại thị trường Tây Á.
Không chỉ dừng ở thương mại, rủi ro lớn hơn đang nằm ở sản xuất. Chuyên gia Hamid Malik cho biết vụ mùa Kharif tại các quốc gia trồng lúa chủ lực như Ấn Độ, Bangladesh và Thái Lan có thể mất từ 11 – 13 triệu tấn, tương đương 2,5 - 3% sản lượng toàn cầu (khoảng 560 triệu tấn). Nguyên nhân chính đến từ nguy cơ thiếu hụt phân bón và nhiên liệu, những yếu tố phụ thuộc lớn vào nguồn cung Trung Đông.
Đáng chú ý, khoảng 70% nguồn urê hoặc khí LNG đầu vào cho sản xuất phân bón có liên quan đến khu vực Vùng Vịnh. Nếu gián đoạn tại eo biển Hormuz kéo dài, chuỗi cung ứng có thể bị “nghẽn mạch”, đẩy chi phí sản xuất tăng cao và ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất.
Trong bối cảnh đó, 2 - 3 tuần tới được xem là giai đoạn then chốt của vụ gieo trồng. Nếu nguồn cung vật tư không được khơi thông kịp thời, nguy cơ thiếu hụt sản lượng gạo toàn cầu là hiện hữu, kéo theo áp lực tăng giá trong thời gian tới.