Thứ tư 07/10/2026 22:59
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ gây khó cho doanh nghiệp?

12/10/2020 00:00
Ông Nguyễn Ngọc Hà, giảng viên Đại học Ngoại Thương khẳng định Dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ sẽ tạo ra khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam.

So với cam kết về sở hữu trí tuệ trong các FTA khác, cam kết sở hữu trí tuệ trong CPTPP có điểm nào đặc biệt? Thưa ông?

Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã tham gia đàm phán và ký kết nhiều FTA thế hệ mới có hàm chứa các quy định về sở hữu trí tuệ, tuy nhiên, CPTPP có thể được coi là một trong những FTA mà ở đó Việt Nam phải thực thi những quy định có tiêu chuẩn cao nhất trong lĩnh vực này.

Các điểm đặc biệt mà cũng đồng thời tạo ra các thách thức không nhỏ đối với Việt Nam của các quy định về sở hữu trí tuệ trong CPTPP có thể kể đến như nghĩa vụ về gia nhập một số điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ (như Hiệp ước Budapest về Công nhận quốc tế đối với việc nộp lưu chủng vi sinh nhằm các mục đích trong thủ tục về sáng chế năm 1977, Hiệp ước của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới về quyền tác giả năm 1996, Hiệp ước của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới về buổi biểu diễn và bản ghi âm năm 1996); bảo hộ đối với nhãn hiệu bằng mùi, bằng âm thanh; bảo hộ dưới dạng sáng chế đối với dữ liệu thử nghiệm bí mặt hoặc dữ liệu bí mật khác đối với nông hóa phẩm có chứa một thành phần hóa học (như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…); quy định cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ rất chặt chẽ, trong đó có cả nghĩa vụ xây dựng các chế tài hình sự để xử lý các hành vi xuất khẩu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu trong phạm hành vi phân phối, hành vi nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa sau lậu quyền tác giả và quyền liên quan trong phạm vi hành vi phân phối, hành vi liên quan đến tem nhãn, bao bì giả mạo…

Dù CPTPP đã tạm hoãn 10 cam kết rất cao về sở hữu trí tuệ của TPP, những quy định còn lại vẫn sẽ đặt ra những khó khăn không nhỏ cho Chính phủ hay doanh nghiệp của Việt Nam khi thực thi.

Dù CPTPP đã tạm hoãn 10 cam kết rất cao về sở hữu trí tuệ của TPP, những quy định còn lại vẫn sẽ đặt ra những khó khăn không nhỏ cho Chính phủ hay doanh nghiệp của Việt Nam khi thực thi.

Dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ trên thực tế đã một phần hiện thực những cam kết về sở hữu trí tuệ trong CPTPP với pháp luật Việt Nam. Ông có đánh giá như thế nào về những sửa đổi của Dự thảo luật lần này?

Về cơ bản, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Sở hữu trí tuệ do Chính phủ trình Quốc hội thông qua trong kỳ họp lần này chủ yếu nội luật hóa một số quy định của CPTPP về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam có nghĩa vụ phải thực thi ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực.

Việc CPTPP có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ ngày 14/01/2019 và bây giờ, vào kỳ họp tháng 5 này, Quốc hội sẽ thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Sở hữu trí tuệ để đảm bảo thực thi ngay những cam kết đó thể hiện sự nỗ lực cũng như sự tuân thủ và trách nhiệm rất cao của Việt Nam trong việc thực thi các cam kết quốc tế.

Đây là yếu tố quan trọng tạo nên sự tin tưởng của các quốc gia đối tác và của các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam. Có thể thấy, các quy định mà Việt Nam nội luật hóa lần này chưa phải là những cam kết “khó” nhất đối với Việt Nam về sở hữu trí tuệ trong CPTPP. Theo kế hoạch, các cam kết “khó” đó sẽ được nội luật hóa vào Luật Sở hữu trí tuệ trong năm 2021.

Ông có thể chỉ ra một vài bất cập trong Dự thảo lần này?

Đúng là trong Dự thảo lần này đã bộc lộ một số điểm hạn chế mà ban soạn thảo cần phải cân nhắc.

Ví dụ: quy định mới được bổ sung là khoản 4 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ để nội luật hóa Điều 18.74.10 của CPTPP sẽ cho phép tòa án có quyền yêu cầu bên thua kiện phải thanh toán cho bên thắng kiện “chi phí hợp lý để thuê luật sư” có thể gây nhiều khó khăn cho việc xác định mức hợp lý của chi phí thuê luật sư, do đó, gây khó khăn cho tòa án Việt Nam khi, theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không phải trường hợp nào khoản chi phí này cũng được bồi thường.

Đồng thời, Điều 18.74.10 của CPTPP chỉ yêu cầu áp dụng quy định này tối thiểu cho các vụ tranh chấp về quyền tác giả hoặc quyền liên quan, sáng chế và nhãn hiệu. Trong khi đó, dự thảo khoản 4 Điều 198 nêu trên cho phép áp dụng quy định này cho mọi tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, một số quy định về chỉ dẫn địa lý (như tại dự thảo khoản 1, khoản 3 Điều 80 ) được cho là đã tạo nên chế độ bảo hộ cao hơn so với cam kết của Việt Nam trong CPTPP…

Bên cạnh những bất cập này, có một vấn đề khá quan trọng chưa được thể hiện rõ trong Dự luật, đó là phạm vi áp dụng về không gian của các quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi.

Tính đến tháng 05/2019, CPTPP đã có hiệu lực đối với 7 quốc gia. Khi CPTPP có hiệu lực đối với 11 quốc gia thành viên, các quy định của CPTPP cũng chỉ được áp dụng, về cơ bản, cho mối quan hệ thương mại của Việt Nam với 10 quốc gia thành viên còn lại.

Tuy nhiên, dường như, các sửa đổi về sở hữu trí tuệ trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ lần này không giới hạn phạm vi áp dụng về mặt không gian cho việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong phạm vi quan hệ của Việt Nam với 10 quốc gia thành viên CPTPP.

Ngược lại, các quy định được sửa đổi trong Luật Sở hữu trí tuệ sẽ được áp dụng đầy đủ đối với tất cả các tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật, tức là rộng hơn rất nhiều so với các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia thành viên CPTPP. Điều này có thể cho thấy quyết tâm của Việt Nam trong việc xây dựng khung pháp luật tiêu chuẩn cao về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Ngược lại, nó cũng có thể tạo ra những khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam khi gặp phải sự cạnh tranh của các doanh nghiệp đến từ các quốc gia không phải là thành viên CPTPP nhưng lại được hưởng những ưu đãi của CPTPP.

Nếu là thành viên trong Ban soạn thảo, ông sẽ sửa đổi những quy định này như thế nào?

Như những phân tích ở trên đã chỉ ra, theo quan điểm của tôi, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ cần được nghiên cứu kỹ để có sự điều chỉnh phù hợp về phạm vi áp dụng. Ngoài ra, những quy định tạo nên chế độ bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ cao hơn so với CPTPP cũng cần được xem xét điều chỉnh lại cho hợp lý.

Ví dụ, với dự thảo khoản 4 Điều 198, có thể giới hạn để chỉ áp dụng đối với các tranh chấp về quyền tác giả hoặc quyền liên quan, sáng chế và nhãn hiệu. Sau đó, khi đã có những tổng kết về thực tiễn áp dụng, Việt Nam mới nên xem xét việc mở rộng phạm vi áp dụng của quy định này cho các vụ tranh chấp liên quan đến các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ.

Ông có lời khuyên nào cho doanh nghiệp khi thực hiện các cam kết khó bậc nhất CPTPP?

Việc nội luật hóa các quy định của CPTPP về sở hữu trí tuệ sẽ có những tác động tới hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam.

Khi đổi mới, sáng tạo đã trở thành một chủ trương lớn, việc chủ động tuân thủ và vận dụng đúng đắn các quy định của CPTPP không chỉ trên lãnh thổ Việt Nam mà còn trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên CPTPP khác sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng được những lợi thế mà các quy định đó mang lại.

Từ đó, họ có thể bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp mà họ có được từ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ theo CPTPP và phát huy chúng để tạo ra các lợi thế cạnh tranh và kinh doanh trên thị trường.

Xin cảm ơn ông!

TAGS:

Tin bài khác
Chính phủ thúc giải ngân, gỡ điểm nghẽn để tăng tốc cuối năm

Chính phủ thúc giải ngân, gỡ điểm nghẽn để tăng tốc cuối năm

GDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01%, nhưng áp lực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng vẫn lớn. Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương rà soát toàn bộ chỉ tiêu, khơi thông dư địa tăng trưởng và tăng tốc giải ngân đầu tư công trong quý IV.
CPI vượt ngưỡng, bài toán lạm phát bước vào quý IV

CPI vượt ngưỡng, bài toán lạm phát bước vào quý IV

CPI 9 tháng năm 2026 tăng 4,52%, đã vượt mức mục tiêu 4,5% cho cả năm, trong khi áp lực giá tiếp tục lan từ xăng dầu sang nhà ở, vật liệu xây dựng, giao thông và thực phẩm. Quý IV trở thành phép thử đối với khả năng phối hợp chính sách và kiểm soát các cú tăng giá.
WB nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 7,4%, cao nhất khu vực EAP

WB nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 7,4%, cao nhất khu vực EAP

Ngân hàng Thế giới (WB) nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 lên 7,4%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với dự báo trước và là mức cao nhất khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (EAP). Đà tăng được hỗ trợ bởi sản xuất, xuất khẩu công nghệ cao và đầu tư công, song nền kinh tế vẫn đối mặt với không ít rủi ro từ bên ngoài.
Chính phủ công khai kết quả xử lý hàng loạt kiến nghị của doanh nghiệp

Chính phủ công khai kết quả xử lý hàng loạt kiến nghị của doanh nghiệp

Các kết quả xử lý kiến nghị của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp sau Hội nghị Thường trực Chính phủ ngày 18/7/2026 đã được công khai trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, tạo thêm kênh để cộng đồng doanh nghiệp theo dõi, đánh giá.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị Siemens Energy mở rộng đầu tư tại Việt Nam

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị Siemens Energy mở rộng đầu tư tại Việt Nam

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị Siemens Energy tăng cường hợp tác, chuyển giao công nghệ, từng bước tham gia sản xuất và xây dựng chuỗi cung ứng năng lượng tại Việt Nam, đáp ứng nhu cầu điện ngày càng lớn.
Quảng Ninh dẫn đầu cả nước về tăng trưởng GRDP sau 9 tháng

Quảng Ninh dẫn đầu cả nước về tăng trưởng GRDP sau 9 tháng

Với GRDP quý III tăng 15,04%, lũy kế 9 tháng tăng 12,54%, Quảng Ninh đang giữ vị trí dẫn đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng, tạo nền tảng để địa phương hướng tới mục tiêu vượt 13% trong năm 2026.
Gần 1 triệu tỷ đồng đầu tư công bước vào chặng nước rút

Gần 1 triệu tỷ đồng đầu tư công bước vào chặng nước rút

Sau 9 tháng, giải ngân vốn đầu tư công đã đạt 642.961,6 tỷ đồng, cao hơn cùng kỳ năm trước cả về tỷ lệ và giá trị tuyệt đối. Khi quý IV bắt đầu, áp lực hoàn thành kế hoạch cũng đồng thời mở ra một thị trường đáng chú ý cho các doanh nghiệp xây dựng, vật liệu, thiết bị và dịch vụ liên quan.
Xuất nhập khẩu tháng 9 đảo chiều, 9 tháng vẫn nhập siêu gần 19,4 tỷ USD

Xuất nhập khẩu tháng 9 đảo chiều, 9 tháng vẫn nhập siêu gần 19,4 tỷ USD

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2026 đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 9 đã chuyển sang xuất siêu 1,27 tỷ USD, song tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD.
Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.
Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Sau 9 tháng duy trì đà tăng trưởng, Hải Phòng bước vào quý IV với mục tiêu GRDP tăng 14,5% - mức tăng đòi hỏi thành phố phải tháo gỡ nhanh các điểm nghẽn, đẩy mạnh đầu tư công và huy động tối đa các động lực tăng trưởng.
Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Kết luận số 99-KL/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu hoàn thiện mô hình quản trị quốc gia đối với không gian tầm thấp theo hướng thống nhất, hiện đại, dựa trên dữ liệu và quản trị rủi ro; đồng thời phát triển hạ tầng, công nghệ, nhân lực và hệ sinh thái doanh nghiệp để hình thành một lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật mới.
Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp tiếp tục trở thành điểm sáng của nền kinh tế khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, đóng góp 10 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, GDP Việt Nam 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, trong khi khu vực dịch vụ duy trì đà tăng tích cực.
Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Diễn đàn tại Đồng Tháp đặt trọng tâm vào đổi mới tư duy, liên kết nguồn lực và hợp lực công tư, hướng tới chuyển lợi thế nông nghiệp, công nghiệp, logistics và thị trường thành chuỗi giá trị mới cho doanh nghiệp.
Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Từ quản trị, dữ liệu, công nghệ đến tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế, Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 đặt ra yêu cầu chuyển tiềm năng biển thành năng lực thực tế, tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế biển xanh và bền vững.