Cuộc khảo sát được thực hiện trước thời điểm Washington và Tehran đạt thỏa thuận tạm thời chấm dứt xung đột tại Trung Đông, đồng thời mở lại eo biển Hormuz - tuyến hàng hải then chốt với nguồn cung năng lượng của Nhật Bản.
Kể từ khi xung đột bùng phát hôm 28/2, Nhật Bản liên tục chịu sức ép từ tình trạng nguồn cung dầu thắt chặt và giá năng lượng leo thang. Năm ngoái, nước này nhập tới 94% dầu thô từ Trung Đông, trong đó 93% lượng hàng đi qua eo biển Hormuz.
![]() |
| Tác động của xung đột Trung Đông để lại dư chấn kéo dài cho các doanh nghiệp Nhật Bản |
Khi được hỏi doanh nghiệp cần bao lâu để phục hồi về trạng thái trước chiến tranh sau khi có lệnh ngừng bắn, 17% số người tham gia khảo sát chọn mốc 3 tháng, 31% chọn 6 tháng, 39% chọn 1 năm và 8% cho rằng có thể kéo dài tới 3 năm. Một quản lý trong lĩnh vực bán buôn nhận định việc rà phá thủy lôi sẽ mất thời gian, kéo theo quá trình khôi phục nguồn cung dầu thô cũng không thể diễn ra trong ngắn hạn.
Cuộc thăm dò do Nikkei Research thực hiện cho Reuters trong giai đoạn 3-12/6, trước khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đăng trên Truth Social ngày 14/6 rằng hai bên đã đạt được thỏa thuận khung. Khảo sát tiếp cận 490 doanh nghiệp, trong đó có 215 đơn vị phản hồi với điều kiện giấu tên.
Biên bản ghi nhớ dự kiến được ký tại Thụy Sĩ vào ngày 19/6. Dù vậy, kết quả khảo sát cho thấy tâm lý thận trọng vẫn bao trùm cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản, trong bối cảnh rủi ro về chuỗi cung ứng, chi phí năng lượng và vận tải chưa hạ nhiệt.
Khảo sát cũng cho thấy phần lớn doanh nghiệp Nhật Bản vẫn lo ngại về khả năng mua dầu và các sản phẩm từ dầu mỏ, bất chấp cam kết từ chính phủ rằng nước này vẫn bảo đảm được nguồn cung cần thiết.
Việc chiến sự leo thang và eo biển Hormuz bị phong tỏa trên thực tế đã buộc Nhật Bản phải khẩn trương tìm nguồn cung thay thế, đồng thời sử dụng tới dự trữ dầu quốc gia để giảm áp lực thiếu hụt.
Cụ thể, 27% số người được hỏi cho biết họ rất lo ngại về việc mua dầu và các sản phẩm dầu mỏ như naphtha, 69% bày tỏ lo ngại ở mức nhất định, trong khi chỉ 4% nói không quá quan ngại.
Một quản lý tại doanh nghiệp sản xuất cao su cho biết, với một số nguyên liệu thô, công ty của họ hiện chỉ có thể nhận được cam kết cung ứng chắc chắn trong khoảng 2 tháng.
Naphtha là nguyên liệu đầu vào quan trọng của ngành hóa dầu, được sử dụng để sản xuất nhiều mặt hàng như túi nhựa, linh kiện ô tô và các sản phẩm công nghiệp khác.
Ngoài câu chuyện năng lượng, khảo sát còn đề cập tới tác động của trí tuệ nhân tạo (AI) trong môi trường làm việc. Có 8% doanh nghiệp cho biết việc ứng dụng AI gia tăng đang ảnh hưởng rõ rệt tới tuyển dụng và sử dụng lao động, trong khi 48% nói công nghệ này đã tạo tác động ở một mức độ nhất định tới hoạt động kinh doanh.
Theo một quản lý tại công ty sản xuất máy móc, việc sử dụng AI có thể khiến một số vị trí không còn cần nhiều nhân lực như hiện nay. Một số ý kiến khác cho rằng nhu cầu tuyển dụng nhân viên văn phòng có thể bị siết lại, trong khi lao động có kỹ năng về AI sẽ được săn đón hơn.
Đối với nguy cơ lạm dụng các mô hình AI tiên tiến như Mythos của Anthropic, 30% người tham gia khảo sát xem đây là vấn đề cấp bách cần ưu tiên xử lý, còn 61% đánh giá đây là sự nối dài của các thách thức an ninh mạng truyền thống.
Một quan chức tại doanh nghiệp xây dựng cho rằng đây lẽ ra phải là ưu tiên hàng đầu, song nguồn lực tài chính hiện chưa đủ để đầu tư tương xứng.
Các chuyên gia cảnh báo năng lực lập trình nâng cao và khả năng tự động hóa của Mythos có thể làm gia tăng tốc độ cũng như mức độ tinh vi của các cuộc tấn công mạng.
Tuần trước, Anthropic cho biết hãng đã vô hiệu hóa quyền truy cập vào các mô hình AI mới nhất trên phạm vi toàn cầu sau chỉ đạo từ chính quyền Mỹ về việc ngăn công dân nước ngoài sử dụng những mô hình này.