Thứ hai 29/06/2026 01:27
Hotline: 024.355.63.010
Góc nhìn Chuyên gia

Công thức chiến lược của ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam: C = SET + 1

21/08/2024 11:18
Ngành công nghiệp bán dẫn vốn chưa bao giờ là dễ dàng. Cần một tiếp cận độc đáo, một khát vọng lớn và một quyết tâm rất cao, một sự bền bỉ, và chấp nhận rủi ro, theo Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng.
Ảnh minh họa
Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng.

Nếu phải tìm một công thức cho Chiến lược Bán dẫn Việt Nam thì công thức có thể là:

C = SET + 1

C: Chip

S: Specialized

E: Electronics

T: Talent

Cốt lõi của Chiến lược Bán dẫn là thiết kế, chế tạo ra chip bán dẫn.

Về chữ C (Chip bán dẫn)

Công nghệ cốt lõi của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là IoT và AI. IoT để số hoá thế giới thực, tạo ra thế giới số, tạo ra dữ liệu. AI để xử lý dữ liệu và tạo ra giá trị mới. Cốt lõi của IoT và AI là chip bán dẫn.

Bán dẫn đang thay đổi và định hình thế giới chúng ta đang sống. Nó đã, đang và sẽ có mặt trong hầu hết mọi thiết bị, trong mọi mặt của đời sống xã hội. Nó ảnh hưởng to lớn tới an ninh kinh tế và an ninh quốc phòng. Và điều này sẽ còn kéo dài, ít nhất là tới giữa thế kỷ 21. Bán dẫn nằm trong một bức tranh rất lớn và có tính toàn cầu, đó là chuyển đổi số.

Về chữ S (Specialized - Chuyên dụng, Chip chuyên dụng)

CMCN 4.0 liên quan tới các công nghệ mới như AI, IoT và tự động hoá công nghiệp. Các ứng dụng này đòi hỏi hiệu suất tính toán rất cao, khả năng xử lý dữ liệu lớn, thời gian phản hồi nhanh. Chip chuyên dụng được thiết kế để tối ưu hoá những nhu cầu này, giúp đạt hiệu suất cao hơn các chip đa dụng. Ngoài ra, các yêu cầu tiêu thụ nguồn thấp cho IoT, tính năng bảo mật cao cho các hệ thống công nghiệp trọng yếu quốc gia, các yêu cầu riêng biệt cho các lĩnh vực như viễn thông, y tế, giao thông, năng lượng, đều cần đến chip chuyên dụng. Chip chuyên dụng cũng thúc đẩy đổi mới công nghệ.

Các chip bán dẫn đa năng khi áp dụng vào các ứng dụng chuyên dụng sẽ không dùng hết công suất (thường chỉ dùng tới 10-20% công năng), gây lãng phí, nhất là về nguồn điện, giá thành cao. Các chip bán dẫn đa năng thường là một số ít hãng sản xuất. Các chip chuyên dụng thì rất đa dạng, tạo ra nhiều cơ hội.

Nếu CMCN 3.0 đại diện là các chip đa dụng thì CMCN 4.0 đại diện là các chip chuyên dụng.

Các nước đi sau thì phải đi từ các chip chuyên dụng.

Về chữ E (Electronics - Điện tử, Công nghiệp điện tử)

Phát triển công nghiệp bán dẫn (CNBD) Việt Nam phải đi cùng với phát triển ngành công nghiệp điện tử (CNĐT), công nghiệp chuyển đổi số (CĐS). Chip bán dẫn là một thành phần đầu vào quan trọng của thiết bị điện tử. Nếu chỉ làm chip bán dẫn thì sẽ phụ thuộc đầu ra, phụ thuộc vào người mua chip là các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện tử. Các nước đã hoá rồng, hoá hổ thì chưa có nước nào không có ngành CNĐT phát triển.

Công nghiệp điện tử đang có làn sóng mới là trí tuệ nhân tạo (AI). Các thiết bị điện tử thế hệ mới cần được AI hoá. Các con chip AI sẽ là linh hồn của các thiết bị điện tử thế hệ mới. Đưa chip bán dẫn vào các thiết bị điện tử tiêu dùng cuối thế kỷ 20 đã tạo ra Nhật Bản hoá rồng, vậy đưa chip AI vào các thiết bị điện tử sẽ tạo ra quốc gia nào hoá rồng? Việt Nam sẽ là số 1 nếu chúng ta lựa chọn con đường này. Lúc này chính là cơ hội cho Việt Nam phát triển lại ngành CNĐT đã bị đánh mất.

Phát triển CNĐT chính là tạo đầu ra cho bán dẫn. Ngành công nghiệp điện tử, bao gồm thiết bị điện tử dân dụng và thiết bị điện tử chuyên dụng cho các ngành (viễn thông, y tế, năng lượng, ô tô, hàng không vũ trụ, quốc phòng an ninh,...), lớn gấp 5-6 lần ngành CNBD.

Công nghiệp CĐS thì còn lớn hơn rất nhiều. Công nghiệp CĐS là việc số hoá thế giới thực, là các thiết bị điện tử IoT. Thiết bị IoT cần chip bán dẫn cho IoT. Thiết bị IoT thì lớn hơn rất và rất nhiều thiết bị công nghiệp điện tử truyền thống. Chip cho công nghiệp điện tử và công nghiệp CĐS thì dễ hơn chip bán dẫn công nghệ cao (như chip của Intel và Nvidia), nhưng nhu cầu lại vô cùng lớn.

Về chữ T (Talent - Nhân tài, Nhân lực)

Một trong những bước đi của Chiến lược Bán dẫn Việt Nam là xây dựng Việt Nam thành Hub nhân lực toàn cầu về CNBD, và từ Hub nhân lực này sẽ tiến tới xây dựng ngành CNBD tại Việt nam. Hub nhân lực sẽ như thỏi nam châm để thu hút đầu tư nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử tại Việt Nam. Hub nhân lực thì bao gồm cả gia công, xuất khẩu lao động về CNBD.

Khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu lao động qua đào tạo lại (Reskill), đào tạo nâng cao (Upskill) thì Việt Nam là top đầu. 700 ngàn kỹ sư điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, công nghệ số có thể thông qua đào tạo lại hoặc nâng cao là có thể đáp ứng ngay nhu cầu nhân lực bán dẫn. Năng lực về STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học) thì Việt Nam cũng là top đầu. Mỗi năm có hàng trăm ngàn kỹ sư về điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, công nghệ số và bán dẫn mới ra trường. Nhân lực là lõi để dựng lên ngành CNBD của Việt Nam.

Nguồn nhân lực cho ngành CNBD thì bao gồm nhân lực cho các công đoạn của ngành công nghiệp này, chứ không chỉ riêng thiết kế chip.

Ảnh minh họa
Các kỹ sư CNTT, kỹ sư phần mềm, kỹ sư điện tử, nếu được đào tạo lại 6 tháng, 12 tháng là đã có thể sẵn sàng tham gia CNBD

Việc chuẩn bị nhân lực thì dựa trên dự báo, tầm nhìn dài hạn, nhưng vẫn phải dựa trên nhu cầu thị trường. Việc ký kết các cam kết về nhu cầu nhân lực giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp bán dẫn trong và ngoài nước, tức là tạo đầu ra, sẽ là đảm bảo cho đào tạo thành công. Ở tầm quốc gia, Chính phủ cũng sẽ ký kết các hợp tác quốc gia về cung cấp nhân lực bán dẫn với một số quốc gia thiếu hụt nhân lực bán dẫn. Để đảm bảo đào tạo thành công thì phải có đầu ra. Đảm bảo đầu ra là đảm bảo cho thành công của các chương trình đào tạo. Đảm bảo đầu ra thì cần chú ý đến thu nhập, đến những loại việc CNBD có chất lượng cao, lương của CNBD phải cao hơn lương của CNTT.

Thiếu hụt nhân lực bán dẫn đang có tính ngắn hạn, cho nên, ngoài việc đào tạo, nghiên cứu dài hạn, thậm chí đào tạo STEM từ phổ thông, đào tạo cao học, tiến sỹ, thì vẫn phải chú trọng trong ngắn hạn việc đào tạo nhanh. Và cách tốt nhất trong ngắn hạn là đào tạo lại, đào tạo nâng cao, hoặc đào tạo chuyển tiếp. Các kỹ sư CNTT, kỹ sư phần mềm, kỹ sư điện tử, nếu được đào tạo lại 6 tháng, 12 tháng là đã có thể sẵn sàng tham gia CNBD. Để làm được việc này thì cần giáo viên, cần người hướng dẫn, cần cơ sở vật chất, cần giáo trình. Và lời giải ở đây là sự hợp tác giữa các doanh nghiệp CNBD và đại học, là sự đầu tư cơ sở vật chất của nhà nước cho các cơ sở đào tạo. Việc đào tạo lại giáo viên, hoặc thu hút giáo viên bán dẫn nước ngoài có thể là ưu tiên cao nhất lúc này.

Về + 1 (X + 1)

Thế giới đang cơ cấu lại ngành CNBD theo hướng đa dạng hoá nguồn cung, X+1, không chỉ về sản xuất mà là ở tất cả các khâu của CNBD. Các nước đã có CNBD, hoặc một phần của CNBD, đều muốn có thêm một cơ sở nữa ở nước khác. Việt Nam là một trong ít nước có thể là số 1 này. Việt Nam có quan hệ chiến lược tốt đẹp với hầu hết các cường quốc CNBD. Và số 1 Việt Nam này sẽ có mặt ở tất cả các khâu của CNBD.

Chúng ta sẽ thu hút FDI theo hướng X+1 này. Với chiến lược X+1 này, Việt Nam chúng ta bán sự an toàn cho ngành CNBD toàn cầu. Các doanh nghiệp FDI sẽ nhìn thấy Việt Nam không chỉ cung cấp hạ tầng nhân lực, đất đai, điện, nước, giao thông, viễn thông, các ưu đãi thuế, mà còn là sự an toàn cho CNBD. CNBD ảnh hưởng to lớn tới an ninh kinh tế và an ninh quốc phòng thì đảm bảo sự an toàn sẽ luôn là ưu tiên số 1.

Việt Nam có lợi thế địa chính trị về công nghiệp bán dẫn. Nếu lấy Việt Nam làm tâm và quay một vòng tròn 4-5 giờ bay thì sẽ bao phủ tới 70% ngành CNBD thế giới. Việt Nam đang ở trung tâm toàn cầu của ngành CNBD. Việt Nam lại là nước ổn định chính trị, nằm trong nhóm các nước có tốc độ phát triển nhanh, Đảng và Nhà nước Việt Nam đặt ưu tiên phát triển CNBD, có Chiến lược quốc gia về phát triển CNBD.

Về cách tiếp cận khác biệt

C = SET + 1 có thể là một tiếp cận khác biệt.

Ngành CNBD toàn cầu là rất đổi mới, rất sáng tạo, đã đi qua rất nhiều mô hình kinh doanh mới, mô hình này thay đổi mô hình kia, các mô hình mới lật đổ mô hình cũ, và mỗi lần như vậy lại tạo ra một sự phát triển mới mang tính đột phá, tạo ra một quốc gia bán dẫn mới. Hy vọng rằng với sự tham gia của Việt Nam, với tiếp cận khác biệt của Việt Nam, sẽ xuất hiện một mô hình kinh doanh mới của ngành bán dẫn toàn cầu.

Nhưng ngành công nghiệp này vốn chưa bao giờ là dễ dàng. Cần một tiếp cận độc đáo, một khát vọng lớn và một quyết tâm rất cao, một sự bền bỉ, và chấp nhận rủi ro.

Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng

Bài liên quan
Tin bài khác
TS Lê Duy Bình đề xuất chuyển tư duy hỗ trợ sang phát triển doanh nghiệp nhỏ

TS Lê Duy Bình đề xuất chuyển tư duy hỗ trợ sang phát triển doanh nghiệp nhỏ

TS Lê Duy Bình nhấn mạnh cần thay đổi cách tiếp cận doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ tư duy hỗ trợ sang kiến tạo môi trường phát triển, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và tự thân lớn mạnh.
ThS. Nguyễn Hoa Cương: Cần cải cách mạnh để chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

ThS. Nguyễn Hoa Cương: Cần cải cách mạnh để chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

ThS. Nguyễn Hoa Cương đề xuất cải cách mạnh mẽ nhằm đưa nguồn lực đến đúng đối tượng, tạo tác động thực chất cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.
CEO Lê Thị Yến: Chuyển từ hỗ trợ sang thúc đẩy để doanh nghiệp bứt phá

CEO Lê Thị Yến: Chuyển từ hỗ trợ sang thúc đẩy để doanh nghiệp bứt phá

CEO Lê Thị Yến đề xuất đổi tư duy chính sách từ hỗ trợ sang thúc đẩy, đồng thời gỡ nút thắt kế toán, thuế nhằm tạo động lực phát triển cho hàng triệu hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp.
Khơi thông vốn tư nhân qua PPP, cần cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng minh bạch

Khơi thông vốn tư nhân qua PPP, cần cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng minh bạch

Trong bối cảnh nhu cầu vốn phát triển ngày càng lớn, khu vực tư nhân được kỳ vọng đóng vai trò chủ lực, song cơ chế chia sẻ rủi ro trong PPP vẫn là điểm nghẽn cần sớm thể chế hóa để tạo niềm tin.
PGS-TS Nguyễn Chỉ Sáng: Cần doanh nghiệp nòng cốt để làm chủ công nghiệp vật liệu quốc gia

PGS-TS Nguyễn Chỉ Sáng: Cần doanh nghiệp nòng cốt để làm chủ công nghiệp vật liệu quốc gia

Theo PGS-TS Nguyễn Chỉ Sáng, Việt Nam phải lựa chọn doanh nghiệp nòng cốt, xây dựng cơ chế đặc thù để làm chủ công nghiệp vật liệu, từ đó tạo nền tảng cho mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp phát triển vào năm 2045.
TS. Nguyễn Văn Khôi: Định giá bất động sản cần cơ chế đột phá để tháo điểm nghẽn

TS. Nguyễn Văn Khôi: Định giá bất động sản cần cơ chế đột phá để tháo điểm nghẽn

TS. Nguyễn Văn Khôi - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Namcho rằng định giá bất động sản đang trở thành điểm nghẽn thể chế, gây ách tắc dòng vốn, làm chậm tiến độ dự án và cần cơ chế đột phá để khơi thông thị trường.
TS. Nguyễn Trí Hiếu: Giải bài toán dòng tiền quyết định thành bại đầu tư bất động sản

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Giải bài toán dòng tiền quyết định thành bại đầu tư bất động sản

TS. Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh dòng tiền là yếu tố cốt lõi quyết định hiệu quả đầu tư bất động sản, đặc biệt phân khúc cho thuê, đồng thời đề xuất chính sách hỗ trợ nhằm tạo động lực phát triển bền vững thị trường.
Hoàn thiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng thực chất, số hóa và tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân

Hoàn thiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng thực chất, số hóa và tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân

Tại Hội thảo “Tham vấn chính sách, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, gợi mở định hướng hoàn thiện chính sách trong giai đoạn mới”, bà Nguyễn Thị Bích Thủy, Trưởng phòng Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) cho biết, Bộ Tài chính đang khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự thảo luật để gửi Bộ Tư pháp thẩm định trong tháng 6/2026.
TS. Cấn Văn Lực: Gỡ 20% dự án tồn đọng, kinh tế có thêm 670.000 tỷ đồng

TS. Cấn Văn Lực: Gỡ 20% dự án tồn đọng, kinh tế có thêm 670.000 tỷ đồng

Theo TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, hàng nghìn dự án bị ách tắc đang “giam” nguồn lực khổng lồ, nếu tháo gỡ hiệu quả, nền kinh tế có thể được bổ sung hàng trăm nghìn tỷ đồng mỗi năm.
TS. Samuel Feldberg cảnh báo những rủi ro có thể thay đổi trật tự kinh tế toàn cầu và chiến lược cho doanh nghiệp Việt

TS. Samuel Feldberg cảnh báo những rủi ro có thể thay đổi trật tự kinh tế toàn cầu và chiến lược cho doanh nghiệp Việt

Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang đối mặt với những biến động chưa từng có về địa chính trị, công nghệ, thương mại và tài chính, Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải (UTT) đã phối hợp cùng Đại sứ quán Israel tại Việt Nam tổ chức Tọa đàm quốc tế với chủ đề: "Những thách thức của nền kinh tế thế giới trong bối cảnh hiện nay".
Sai lầm phổ biến khi chọn trường, chọn ngành và lời khuyên dành cho học sinh trước ngưỡng cửa đại học

Sai lầm phổ biến khi chọn trường, chọn ngành và lời khuyên dành cho học sinh trước ngưỡng cửa đại học

TS. Hoàng Thị Thu Phương – Giảng viên Khoa Kinh doanh, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) nhận định, những điều chỉnh trong quy chế tuyển sinh đại học năm nay không đơn thuần là thay đổi về mặt kỹ thuật, mà mang tính định hướng sâu sắc, buộc học sinh lớp 12 phải tư duy kỹ càng về chiến lược nguyện vọng, chuyển dịch từ chiến lược "rải thảm" sang "nhắm trúng đích".
TS. Nguyễn Đức Kiên: Quy hoạch Thủ đô cần tầm nhìn dài hạn và đột phá

TS. Nguyễn Đức Kiên: Quy hoạch Thủ đô cần tầm nhìn dài hạn và đột phá

TS. Nguyễn Đức Kiên cho rằng quy hoạch Hà Nội phải tiếp cận dài hạn, lấy hạ tầng giao thông làm nền tảng, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, hiện thực hóa khát vọng quốc gia đến năm 2045.
Kiến trúc sư - TS. Ngô Viết Nam Sơn: TP. Hồ Chí Minh và bài toán 100 năm

Kiến trúc sư - TS. Ngô Viết Nam Sơn: TP. Hồ Chí Minh và bài toán 100 năm

"Tầm nhìn 100 năm không phải là chúng ta ngồi hôm nay thiết kế hết mọi thứ cho 100 năm sau. Điều quan trọng là phải để dành tài nguyên cho thế hệ tương lai, để trăm năm sau con cháu chúng ta vẫn còn dư địa phát triển", Tiến sĩ khoa học, Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn - Chủ tịch NgoViet Architects & Planners nhấn mạnh.
Thị trường bất động sản bước vào chu kỳ phát triển dựa trên giá trị thực

Thị trường bất động sản bước vào chu kỳ phát triển dựa trên giá trị thực

Theo bà Phạm Thị Miền - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu đánh giá thị trường BĐS Việt Nam, thị trường bất động sản Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển mình rõ nét, khi các yếu tố đầu cơ dần nhường chỗ cho nhu cầu thực và giá trị khai thác bền vững. Sự thay đổi này phản ánh một chu kỳ phát triển mới, nơi dòng tiền trở nên thận trọng và có chọn lọc hơn.
Chấm dứt thời kỳ "ôm" tài sản đầu cơ và tối hậu thư phát triển nhà ở cho thuê

Chấm dứt thời kỳ "ôm" tài sản đầu cơ và tối hậu thư phát triển nhà ở cho thuê

Thị trường bất động sản không thể mãi là nơi chôn vốn của các dòng tiền đầu cơ kém thanh khoản. Cơ chế tăng trưởng mới đặt nhà ở cho thuê thành một trụ cột chiến lược, ép cả cơ quan quản lý lẫn doanh nghiệp phải sòng phẳng cấu trúc lại nguồn cung từ nay đến năm 2030.