Thứ bảy 05/09/2026 10:30
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Kinh doanh

C/O: Từ thủ tục xuất khẩu đến “thước đo năng lực” của doanh nghiệp Việt

C/O ngày nay không chỉ là thủ tục xuất khẩu mà là thước đo minh bạch, tuân thủ và năng lực quản trị của doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Phân quyền cấp C/O về địa phương: Cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hội nhập FTA

Từ ưu đãi thuế đến điều kiện tiếp cận thị trường

Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) ngày nay không còn đơn thuần là một thủ tục hành chính trong bộ hồ sơ xuất khẩu. Trong bối cảnh các thị trường lớn siết chặt quy tắc xuất xứ và yêu cầu minh bạch chuỗi cung ứng, C/O đang dần trở thành “bộ lọc” thể hiện mức độ tuân thủ, năng lực quản trị và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp.

Với nhiều doanh nghiệp xuất khẩu, C/O chính là chìa khóa để tận dụng ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do (FTA). Khi có C/O phù hợp, hàng hóa Việt Nam có thể được hưởng mức thuế nhập khẩu thấp, thậm chí bằng 0%, qua đó giảm chi phí, tăng biên lợi nhuận hoặc tạo dư địa cạnh tranh về giá tại thị trường quốc tế.

Trong bối cảnh chi phí đầu vào, logistics và tài chính đều gia tăng, mỗi phần trăm thuế được cắt giảm nhờ C/O có thể quyết định việc doanh nghiệp giữ được hay mất đơn hàng. Tuy nhiên, lợi ích của C/O không dừng lại ở bài toán chi phí.

C/O: Từ thủ tục xuất khẩu đến “thước đo năng lực” của doanh nghiệp Việt
C/O: Từ thủ tục xuất khẩu đến “thước đo năng lực” của doanh nghiệp Việt

Thực tế cho thấy, nhiều thị trường nhập khẩu lớn như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Hàn Quốc không chỉ yêu cầu hàng hóa có C/O hợp lệ, mà còn đòi hỏi khả năng kiểm chứng, đối chiếu và truy xuất thông tin xuất xứ trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Trong môi trường thương mại ngày càng minh bạch và có tính sàng lọc cao, C/O đang trở thành một điều kiện tiếp cận thị trường. Doanh nghiệp không chứng minh được nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất và giá trị gia tăng có thể bị từ chối ưu đãi, thậm chí bị xếp vào nhóm rủi ro cao.

Các chuyên gia chỉ ra rằng, nhiều doanh nghiệp vẫn nhầm lẫn giữa C/O, quy tắc xuất xứ và truy xuất nguồn gốc. C/O thực chất là kết quả cuối cùng của quá trình chứng minh hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ theo từng hiệp định hoặc cơ chế ưu đãi. Trong khi đó, truy xuất nguồn gốc là công cụ quản trị, giúp doanh nghiệp lần ngược toàn bộ quá trình hình thành sản phẩm, từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm cuối cùng.

Nếu chỉ có C/O mà thiếu hệ thống dữ liệu truy xuất đầy đủ, mức độ tin cậy của xuất xứ hàng hóa vẫn rất hạn chế. Các thị trường nhập khẩu ngày càng ít chấp nhận C/O theo cách truyền thống, mà yêu cầu doanh nghiệp chứng minh được từng công đoạn tạo ra giá trị gia tăng.

Dưới góc nhìn thực tiễn, việc tận dụng hiệu quả ưu đãi từ C/O vẫn là bài toán khó với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ở nhiều ngành như dệt may, da giày, điện tử hay chế biến thực phẩm, doanh nghiệp vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu. Điều này khiến việc đáp ứng tỷ lệ hàm lượng nội địa theo quy tắc xuất xứ của các FTA trở nên khó khăn, nhất là khi xuất khẩu sang các thị trường áp dụng tiêu chí chặt chẽ.

Theo bà Đinh Thị Hương Giang - Giám đốc Tư vấn, Công ty Kiểm toán và Tư vấn Grant Thornton Việt Nam, các FTA mở ra cơ hội xuất khẩu lớn nhưng đồng thời buộc doanh nghiệp phải nâng cao chuẩn mực phát triển bền vững và minh bạch tài chính. “Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt vẫn gặp khó khăn do thiếu báo cáo tài chính minh bạch, hệ thống kế toán và dữ liệu chưa được số hóa, thiếu các chỉ số hiệu suất tài chính (KPI) theo chuẩn quốc tế, trong khi năng lực quản trị rủi ro tài chính và tuân thủ thuế còn hạn chế” - bà Giang nhận định và cho rằng cùng với đó là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt từ doanh nghiệp nước ngoài ngay tại thị trường nội địa. Điều này cho thấy, việc tận dụng ưu đãi từ C/O không thể tách rời chiến lược nâng cấp quản trị và chuỗi cung ứng của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, năng lực quản lý dữ liệu và truy xuất nguồn gốc vẫn là “điểm nghẽn” phổ biến. Không ít doanh nghiệp còn quản lý sản xuất theo phương thức thủ công hoặc bán thủ công; hệ thống lưu trữ chứng từ thiếu đồng bộ; dữ liệu đầu vào – đầu ra khó đối chiếu. Chỉ cần một khâu không chứng minh được nguồn gốc rõ ràng, toàn bộ lô hàng có thể mất ưu đãi thuế hoặc bị đưa vào diện kiểm soát rủi ro.

C/O buộc doanh nghiệp phải đầu tư vào quản trị

Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), cho biết Việt Nam hiện đã tham gia 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) mở ra không gian thị trường rộng lớn, vừa đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với doanh nghiệp trong việc hiểu đúng và tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc xuất xứ.

Với các C/O theo FTA, mức ưu đãi thuế quan sâu và rộng, thậm chí nhiều mặt hàng được hưởng thuế suất 0%. Tuy nhiên, để đạt được điều đó, doanh nghiệp không thể chỉ “làm hồ sơ”, mà buộc phải đầu tư bài bản vào quản trị, dữ liệu và quy trình sản xuất.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa gắn với chuyển đổi số và tiêu chuẩn xanh, quản lý xuất xứ hàng hóa đang dần gắn với hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử và dữ liệu tự động. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải thay đổi tư duy, coi tuân thủ quy tắc xuất xứ là nền tảng để phát triển bền vững, chứ không chỉ là yêu cầu mang tính thủ tục.

Từ góc nhìn tổng thể, minh bạch xuất xứ hàng hóa không còn là câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp, mà là bài toán chung của cả chuỗi cung ứng, đòi hỏi sự phối hợp giữa Nhà nước, hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, doanh nghiệp không làm chủ được xuất xứ hàng hóa sẽ rất khó làm chủ thị trường. C/O vì thế không còn là “tấm giấy” đi kèm lô hàng xuất khẩu, mà là bằng chứng tổng hợp phản ánh năng lực quản trị, mức độ minh bạch và khả năng hội nhập thực chất của doanh nghiệp Việt Nam.

Tin bài khác
Chủ động chuẩn hóa quy trình để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu

Chủ động chuẩn hóa quy trình để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu

Xanh hóa sản xuất, giảm phát thải và áp dụng ESG không chỉ là xu hướng. Nó trở thành tiêu chuẩn tối ưu hàng đầu, tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh vào đường đua chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam.
Xuất khẩu cà phê tăng lượng, doanh nghiệp đẩy mạnh chế biến sâu

Xuất khẩu cà phê tăng lượng, doanh nghiệp đẩy mạnh chế biến sâu

Xuất khẩu cà phê Việt Nam tăng mạnh về lượng nhưng giảm giá trị khi giá thế giới đi xuống, mở ra dư địa lớn cho chế biến sâu.
Du lịch, từ ngành kinh tế mũi nhọn đến động lực tăng trưởng liên ngành

Du lịch, từ ngành kinh tế mũi nhọn đến động lực tăng trưởng liên ngành

Du lịch Việt Nam đang được định hướng là ngành kinh tế mũi nhọn, trọng tâm không đặt ở số lượng khách, mà hướng đến nâng tầm giá trị phát triển liên ngành. Tuy nhiên phía sau mục tiêu đó sẽ là các vấn đề về khai thác tiềm năng, cơ sở hạ tầng, năng lực chủ chốt và kết nối các địa phương.
304MW điện mặt trời trên hồ thủy điện: Một mặt nước, hai mục tiêu khai thác

304MW điện mặt trời trên hồ thủy điện: Một mặt nước, hai mục tiêu khai thác

Dự án Nhà máy điện mặt trời nổi KN Srêpốk 3 có công suất 304 MW, tổng vốn đầu tư khoảng 6.745 tỷ đồng, tận dụng mặt hồ thủy điện Srêpốk 3 để phát triển thêm nguồn điện mà không phải dành toàn bộ quỹ đất cho hệ thống pin.
Doanh nghiệp muốn chuẩn hóa chất lượng dịch vụ du lịch toàn vùng ĐBSCL

Doanh nghiệp muốn chuẩn hóa chất lượng dịch vụ du lịch toàn vùng ĐBSCL

Doanh nghiệp lữ hành kiến nghị chuẩn hóa chất lượng dịch vụ tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), từ vệ sinh, an toàn đến ngoại ngữ và kỹ năng phục vụ, nhằm tạo trải nghiệm liền mạch cho khách quốc tế từ TP. Hồ Chí Minh về miền Tây.
Bài 16: Du lịch muốn cất cánh, SME phải được khơi thông vốn

Bài 16: Du lịch muốn cất cánh, SME phải được khơi thông vốn

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị đã mở ra một không gian phát triển mới cho du lịch Việt Nam. Nhưng để những định hướng lớn trở thành tăng trưởng thực chất, chính sách phải được chuyển hóa thành tín dụng, hạ tầng, dữ liệu, thị trường và cơ hội mà doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, có thể tiếp cận.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng năm 2026 tăng 7%, đạt gần 49,3 tỷ USD

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng năm 2026 tăng 7%, đạt gần 49,3 tỷ USD

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng năm 2026 đạt gần 49,3 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ, với rau quả và thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực.
Tây Ninh đón hơn 315.000 lượt khách, doanh thu du lịch tăng gần 80%

Tây Ninh đón hơn 315.000 lượt khách, doanh thu du lịch tăng gần 80%

Trong 5 ngày nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, Tây Ninh đón khoảng 315.600 lượt khách, tăng 51,4% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch ước đạt 278 tỷ đồng, tăng tới 79,4%. Công suất phòng đạt 70-75%, hoạt động du lịch diễn ra ổn định, an toàn.
Du lịch Cà Mau thu 250 tỷ đồng trong 5 ngày nghỉ lễ

Du lịch Cà Mau thu 250 tỷ đồng trong 5 ngày nghỉ lễ

Kỳ nghỉ Quốc khánh 2/9 đã tạo cú hích rõ nét cho du lịch Cà Mau khi tỉnh ước tính đón 210.430 lượt khách, tăng 74,3% so với cùng kỳ năm ngoái.
Du lịch TP. Hồ Chí Minh sôi động, thu gần 4.900 tỷ đồng dịp 2/9

Du lịch TP. Hồ Chí Minh sôi động, thu gần 4.900 tỷ đồng dịp 2/9

Trong 5 ngày nghỉ lễ Quốc khánh 2/9 (từ ngày 29/8-02/9/2026), TP. Hồ Chí Minh ước đón 62.000 lượt khách quốc tế và 1,65 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 4.900 tỷ đồng. Công suất phòng bình quân toàn Thành phố ước đạt 61%.
TP. Hồ Chí Minh tăng tốc hút FDI, không gian mới mở rộng dư địa đầu tư

TP. Hồ Chí Minh tăng tốc hút FDI, không gian mới mở rộng dư địa đầu tư

Sau 8 tháng năm 2026, TP. Hồ Chí Minh thu hút hơn 10 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hoàn thành hơn 91% kế hoạch cả năm. Không chỉ gia tăng về quy mô, dòng vốn quốc tế đang đứng trước một không gian phát triển rộng hơn khi công nghiệp, dịch vụ, logistics, cảng biển và hạ tầng công nghệ được kết nối trong cùng một hệ sinh thái.
Du lịch Khánh Hòa đón gần 1,25 triệu lượt khách dịp Quốc khánh

Du lịch Khánh Hòa đón gần 1,25 triệu lượt khách dịp Quốc khánh

Tổng thu từ khách du lịch trong dịp lễ ước đạt 2.100 tỷ đồng. Tổng lượt khách tham quan, nghỉ dưỡng 1.249.000 lượt, trong đó khách lưu trú 357.000 lượt (quốc tế 96.000 lượt; nội địa 261.000 lượt), khách tham quan 892.000 lượt. Công suất buồng phòng bình quân đạt khoảng 86%.
Cà Mau đón 121.500 lượt khách sau 4 ngày Ngày hội Văn hóa di sản

Cà Mau đón 121.500 lượt khách sau 4 ngày Ngày hội Văn hóa di sản

Sau 4 ngày diễn ra (từ ngày 28 – 31/8/2026), Ngày hội Văn hóa di sản và Lễ hội Khinh khí cầu tỉnh Cà Mau lần thứ I năm 2026 thu hút khoảng 121.500 lượt khách, tăng 76,7% so với cùng kỳ năm 2025, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh trong dịp Quốc khánh 2/9.
TP. Hồ Chí Minh siết minh bạch thông tin lưu trú trên nền tảng đặt phòng trực tuyến

TP. Hồ Chí Minh siết minh bạch thông tin lưu trú trên nền tảng đặt phòng trực tuyến

Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh đang tăng cường phối hợp với các nền tảng đặt phòng trực tuyến (OTA) rà soát, chuẩn hóa thông tin cơ sở lưu trú du lịch trên môi trường số, hướng đến mục tiêu thông tin đúng, dịch vụ đúng, bảo vệ quyền lợi du khách và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho doanh nghiệp.
Thái Nguyên: Khi bản sắc văn hóa trở thành sức hút du lịch

Thái Nguyên: Khi bản sắc văn hóa trở thành sức hút du lịch

Ngày 28/8, trong khuôn khổ Hội chợ Du lịch Quốc tế TP.HCM (ITE HCMC 2026), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội nghị xúc tiến du lịch với chủ đề “Thái Nguyên – Điểm đến xanh cho du khách quốc tế”.