Thứ hai 02/11/2026 20:36
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước: Vướng mắc và giải pháp thúc đẩy

Quá trình cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước mặc dù được Chính phủ chỉ đạo quyết liệt, nhưng tiến độ triển khai vẫn gặp nhiều vướng mắc. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường chứng khoán và môi trường đầu tư trong nước.
Nghị định 89/2024/NĐ-CP: Bước ngoặt mới cho doanh nghiệp nhà nước Dự thảo Luật Đầu tư công (sửa đổi): Các địa phương đánh giá cao quy định phân cấp, phân quyền Đề xuất lương Tổng Giám đốc không quá 10 lần mức lương bình quân của lao động Đề xuất quy định mới về quản lý lao động và tiền lương tại doanh nghiệp Nhà nước Quốc hội cho ý kiến dự án Luật: Doanh nghiệp Nhà nước bị cấm những gì?

Trong báo cáo gửi đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa XV, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chỉ rõ một số vấn đề cơ bản liên quan đến cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước (DNNN), bao gồm các nguyên nhân khách quan và chủ quan gây chậm trễ, cũng như các giải pháp cần thiết để thúc đẩy quá trình này.

Theo Quyết định 1479/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch sắp xếp lại DNNN giai đoạn 2022-2025, Chính phủ yêu cầu phải thực hiện cổ phần hóa 19 DNNN và sắp xếp lại 5 DNNN trong giai đoạn này. Tuy nhiên, tính đến hết tháng 9/2024, trong số 19 doanh nghiệp phải cổ phần hóa, vẫn còn 14 doanh nghiệp đang tiếp tục triển khai các bước chuẩn bị thực hiện, chỉ có 5 doanh nghiệp đã hoàn tất việc thành lập ban chỉ đạo, tổ giúp việc.

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chậm trễ trong quá trình cổ phần hóa là do nhiều yếu tố liên quan đến quy trình hành chính và vướng mắc trong việc phê duyệt phương án sử dụng đất. Các doanh nghiệp có đất đai tại nhiều địa phương gặp khó khăn trong việc thống nhất các phương án sử dụng đất giữa các địa phương. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quá trình cổ phần hóa mà còn làm chậm tiến độ phê duyệt quyết định cổ phần hóa của các doanh nghiệp.

Ngoài ra, các quy định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hiện nay còn chưa đầy đủ và chưa xử lý được một số vướng mắc, đặc biệt là liên quan đến việc xác định giá trị doanh nghiệp, nhất là việc xác định giá trị đất đai và tài sản. Việc này dẫn đến tình trạng phương án cổ phần hóa kéo dài và không hoàn thành đúng kế hoạch.

Một nguyên nhân nữa là Luật Quản lý, sử dụng tài sản công đã được ban hành từ năm 2017, nhưng các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa đầy đủ và rõ ràng. Điều này gây khó khăn cho việc sắp xếp và xử lý tài sản công tại các DNNN, ảnh hưởng đến tiến độ cổ phần hóa.

Bên cạnh các vấn đề vướng mắc từ phía cơ quan nhà nước, chính bản thân các doanh nghiệp cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình cổ phần hóa. Một số doanh nghiệp đang gặp phải tình trạng khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí là âm vốn chủ sở hữu, nợ bảo hiểm xã hội, nợ thuế, hoặc đang trong quá trình tái cơ cấu. Các yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà còn làm tăng thời gian và chi phí trong quá trình cổ phần hóa.

Cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước: Vướng mắc và giải pháp thúc đẩy
Sự chậm trễ trong quá trình cổ phần hóa là do nhiều yếu tố liên quan đến quy trình hành chính và vướng mắc trong việc phê duyệt phương án sử dụng đất (Ảnh: Internet).

Ví dụ điển hình có thể kể đến Công ty TNHH 1 thành viên Thiết bị giáo dục (thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội), Công ty TNHH 1 thành viên Xuất nhập khẩu Nông sản thực phẩm (Agrexport thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Những doanh nghiệp này không chỉ phải đối mặt với khó khăn tài chính mà còn gặp phải những vấn đề phức tạp trong việc xác định giá trị tài sản, xử lý các vấn đề liên quan đến đất đai và các nghĩa vụ tài chính chưa hoàn tất.

Bên cạnh cổ phần hóa, thoái vốn tại các DNNN cũng là một nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong giai đoạn từ 2022 đến nay, các bộ và địa phương đã phải hoàn thành thoái vốn tại 53 doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến hết tháng 9/2024, chỉ có 21 doanh nghiệp hoàn thành thoái vốn, trong khi vẫn còn 32 doanh nghiệp chưa hoàn thành.

Một số doanh nghiệp đã hoàn thành thoái vốn nhưng tỷ lệ thoái vốn không đạt mục tiêu đề ra, nguyên nhân chủ yếu là do không có nhà đầu tư đăng ký mua, hoặc tỷ lệ cổ phần bán ra thấp hơn so với yêu cầu tại Quyết định 1479/QĐ-TTg. Chẳng hạn, các doanh nghiệp như Công ty cổ phần Đường bộ Hải Phòng, Công ty cổ phần Chế biến lâm sản Tuyên Quang và Công ty cổ phần Xây dựng Bình Phước đều không đạt được tỷ lệ thoái vốn như dự kiến.

Một số doanh nghiệp khác cũng gặp phải vướng mắc liên quan đến đất đai, đặc biệt là những doanh nghiệp có diện tích đất lớn tại các khu vực chưa có quy hoạch rõ ràng. Các doanh nghiệp này gặp khó khăn trong việc xác định giá trị tài sản và lập phương án thoái vốn.

Một trong những nguyên nhân khiến cổ phần hóa và thoái vốn chậm chính là cơ chế, chính sách chưa đồng bộ và đầy đủ. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các quy định về cổ phần hóa và thoái vốn hiện nay còn nhiều bất cập, gây khó khăn trong việc triển khai các phương án. Việc thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành đầy đủ, rõ ràng làm cho các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và nhà đầu tư không có đủ thông tin cần thiết để thực hiện các thủ tục một cách nhanh chóng.

Thêm vào đó, một số bộ và địa phương chưa tích cực triển khai cổ phần hóa các DNNN trực thuộc quản lý. Việc này đã kéo dài thời gian triển khai và làm chậm tiến độ thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ. Quá trình phê duyệt các quyết định liên quan đến cổ phần hóa và thoái vốn còn kéo dài, khiến kế hoạch không thể hoàn thành đúng thời hạn.

Để giải quyết các vấn đề trên và thúc đẩy tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đề xuất một số giải pháp.

Thứ nhất, cần tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra và giám sát tiến độ thực hiện cổ phần hóa, sắp xếp lại DNNN của các bộ, ngành, địa phương. Các cơ quan chủ quản phải bám sát tiến độ và đảm bảo các doanh nghiệp hoàn thành việc cổ phần hóa đúng thời gian quy định.

Thứ hai, các cơ quan quản lý nhà nước cần khẩn trương hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến cổ phần hóa và thoái vốn, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn thi hành các luật và nghị định liên quan. Việc này sẽ giúp giải quyết các vướng mắc về đất đai, xác định giá trị doanh nghiệp, tài sản công và tài sản nhà nước.

Thứ ba, cần tập trung xử lý dứt điểm các vấn đề về tài chính, nợ đọng, nghĩa vụ bảo hiểm xã hội và các nghĩa vụ tài chính khác đối với các doanh nghiệp cổ phần hóa. Các doanh nghiệp cần được hỗ trợ trong việc tái cơ cấu tài chính và giảm nợ để có thể tiến hành cổ phần hóa một cách suôn sẻ.

Cuối cùng, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin minh bạch về tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn để thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Việc công khai, minh bạch thông tin sẽ giúp các nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định đầu tư chính xác và kịp thời, từ đó thúc đẩy tiến độ thực hiện các phương án cổ phần hóa và thoái vốn.

Cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước là một trong những bước quan trọng trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và thị trường tài chính Việt Nam. Mặc dù đã có những tiến bộ nhất định, nhưng tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn còn chậm, không đạt mục tiêu đề ra. Việc giải quyết các vướng mắc về cơ chế chính sách, đất đai, tài chính và xử lý nợ sẽ là yếu tố quyết định giúp thúc đẩy quá trình này. Thực hiện tốt các giải pháp này sẽ không chỉ giúp các DNNN hoạt động hiệu quả hơn mà còn tạo ra cơ hội lớn cho các nhà đầu tư, đồng thời nâng cao sự minh bạch và tính cạnh tranh của nền kinh tế.

Tin bài khác
Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định nhà ở xã hội không thể trở thành công cụ đầu cơ sau khi người mua đã hưởng chính sách ưu đãi. Theo hướng chỉnh lý dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), sau 5 năm, chủ sở hữu vẫn phải chuyển nhượng cho người đủ điều kiện hưởng chính sách, với giá không vượt mức giá tại thời điểm mua. Tuy nhiên, cơ chế xác định giá, mua lại và chuyển tiếp vẫn là những vấn đề cần được làm rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Nhấn mạnh yêu cầu nâng tầm chiến lược phát triển logistics quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển, phân phối hàng hóa quan trọng của khu vực và thế giới, đồng thời yêu cầu sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế và kết nối chuỗi cung ứng.
Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Với mạng lưới phân phối ngày càng đa dạng và hoạt động giao thương biên giới tăng trưởng, Tuyên Quang đang mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Để khai thác hiệu quả lợi thế này, tỉnh chú trọng kết nối sản xuất với nhu cầu thị trường, nâng chất lượng sản phẩm và phát triển xuất khẩu bền vững.
Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Trước nhu cầu tiêu dùng thường tăng vào những tháng cuối năm, UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động theo dõi cung cầu, triển khai các biện pháp bình ổn thị trường, kiểm soát lạm phát, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng hoặc tăng giá bất hợp lý, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2027.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa tạo sức hấp dẫn đủ lớn đối với các nhà đầu tư, vừa bảo đảm mỗi đồng ngân sách và nguồn lực hỗ trợ mang lại giá trị thực chất cho nền kinh tế. Định hướng sửa đổi Luật Đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư lần này đặt trọng tâm vào chất lượng dòng vốn, mức độ lan tỏa và trách nhiệm thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Trước áp lực cạnh tranh thu hút dòng vốn quốc tế, Việt Nam cần thiết kế chính sách ưu đãi đầu tư đủ sức hấp dẫn nhưng không dừng ở quy mô vốn đăng ký. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, các khoản hỗ trợ phải gắn với kết quả đầu ra có thể đo lường, kiểm tra, giám sát; trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết cần có cơ chế chấm dứt hoặc thu hồi ưu đãi.
Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Cả nước đã kiểm kê 20 loại tài sản công với tổng nguyên giá hơn 12,87 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, đằng sau quy mô nguồn lực khổng lồ là những bất cập trong hạch toán, bàn giao và sử dụng tài sản. Yêu cầu hiện nay không chỉ là hoàn thiện sổ sách mà phải đưa tài sản có khả năng khai thác trở lại phục vụ hoạt động công, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu.
Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026 đang đặt nền kinh tế trước yêu cầu tăng tốc mạnh trong quý cuối năm. Trước Quốc hội, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết Chính phủ sẽ tập trung tháo gỡ những rào cản, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và triển khai các giải pháp kiểm soát lạm phát, nhằm tạo dư địa cho sản xuất, kinh doanh và giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh lần thứ 281, ngày 30/10, nhiều kiến nghị tập trung vào những thủ tục phát sinh trong suốt vòng đời hoạt động của doanh nghiệp, từ đăng ký đầu tư, thay đổi nội dung kinh doanh đến giải thể và chấm dứt hoạt động đơn vị trực thuộc. Những vấn đề được nêu ra đặt ra yêu cầu không chỉ giải đáp tại hội nghị mà còn phải theo dõi, đôn đốc và công khai kết quả xử lý.
IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, GDP danh nghĩa bình quân đầu người của Việt Nam có thể đạt 5.259 USD trong năm 2026, cao hơn mức 5.153 USD của Indonesia. Đây là bước tiến đáng chú ý trong tương quan quy mô kinh tế giữa hai nước, trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư và mở rộng sản xuất hướng tới xuất khẩu.
Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu sẽ thảo luận nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027 được đặt ra cùng yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Tại Hội nghị Bộ trưởng Nông Lâm nghiệp ASEAN lần thứ 48 (AMAF 48) ở Singapore, Việt Nam đề xuất ba định hướng ưu tiên nhằm củng cố an ninh lương thực, thúc đẩy nông nghiệp xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và đẩy nhanh chuyển đổi số, qua đó nâng cao khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp khu vực.
TP. Hồ Chí Minh mở cơ chế ưu đãi để hút đầu tư vào kinh tế biển

TP. Hồ Chí Minh mở cơ chế ưu đãi để hút đầu tư vào kinh tế biển

Từ cảng biển, logistics, năng lượng tái tạo đến công nghệ sinh học biển và dịch vụ môi trường, TP. Hồ Chí Minh đang mở rộng phạm vi thu hút đầu tư vào kinh tế biển. Danh mục ưu đãi mới được kỳ vọng tạo liên kết giữa các ngành, nhưng bài toán quan trọng là xác định đúng dự án, điều kiện thụ hưởng và cơ chế triển khai để chính sách thực sự đi vào hoạt động kinh doanh.
Mua sắm công mở cửa thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mua sắm công mở cửa thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa trong mua sắm công không chỉ là một chính sách hỗ trợ, mà còn là cách mở rộng thị trường thông qua nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Tuy nhiên, để cơ hội này chuyển thành đơn hàng và doanh thu thực chất, cần minh bạch cách tính tỷ lệ ưu tiên, kết quả lựa chọn nhà thầu và giá trị hợp đồng được trao.
Hải Phòng đặt mục tiêu bàn giao 98% mặt bằng đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng trong tháng 11

Hải Phòng đặt mục tiêu bàn giao 98% mặt bằng đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng trong tháng 11

Hải Phòng đẩy nhanh giải phóng mặt bằng đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, phấn đấu bàn giao 97–98% diện tích trong tháng 11/2026, hoàn thành trước ngày 15/12/2026.