Chiều 3/9/2026, tại SECC, TP.HCM, Diễn đàn “Chuyển đổi xanh: Chìa khóa kết nối tiêu thụ và thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nông thôn” quy tụ chuyên gia, doanh nghiệp và các chủ thể trong chuỗi sản xuất, phân phối.
PGS.TS Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, đặt ra một câu hỏi khác về thành tích xuất khẩu: sau khi sản phẩm đi hết chuỗi giá trị, cơ sở sản xuất, người lao động và cộng đồng nông thôn thực sự giữ lại được bao nhiêu?
Một chiếc giỏ mây bán lẻ tại châu Âu có thể đạt 25-40 euro, trong khi giá FOB khoảng 6-9 USD và cơ sở làng nghề chỉ nhận khoảng 3-5 USD. Phần giá trị giữ lại tại cơ sở có thể chỉ khoảng 10-15%.
Khoảng cách này cho thấy nhiều sản phẩm nông thôn Việt Nam có khả năng sản xuất nhưng chưa nắm được các khâu tạo giá trị cao như thiết kế, thương hiệu, marketing, dữ liệu khách hàng và phân phối.
Theo tham luận, doanh nghiệp có thể tham gia chuỗi ở ba cấp độ: có sản phẩm xuất khẩu; tham gia ổn định vào chuỗi giá trị toàn cầu; và nâng cấp vị trí, nắm giữ thêm chức năng và giá trị. Phần lớn hiện mới ở cấp độ một hoặc đầu cấp độ hai.
Muốn đi lên, doanh nghiệp phải nâng cấp công nghệ, quản trị, chất lượng, chế biến sâu, truy xuất, tiêu chuẩn, phân phối và thương hiệu.
![]() |
| Một điểm chung được nhiều tham luận đề cập tại Diễn đàn là các tiêu chuẩn môi trường đang thay đổi từ yêu cầu mang tính khuyến khích sang điều kiện thương mại ngày càng bắt buộc. Ảnh- Bích Liên |
Các tiêu chuẩn môi trường đang chuyển từ khuyến khích sang điều kiện thương mại bắt buộc. Năm 2026, nhiều quy định quốc tế tác động trực tiếp đến chuỗi cung ứng.
CBAM, EUDR, hộ chiếu sản phẩm số và các yêu cầu thẩm định buộc doanh nghiệp chứng minh nguồn nguyên liệu, mức phát thải và tính minh bạch của quá trình sản xuất.
Chi phí tuân thủ thường là khoản cố định, khiến doanh nghiệp nhỏ, hộ sản xuất và hợp tác xã chịu áp lực lớn. Vì vậy, hỗ trợ không thể chỉ dừng ở từng chiếc máy, bộ bao bì hay chuyến hội chợ.
Cần hình thành chuỗi dịch vụ từ tiêu chuẩn, thiết kế, kiểm nghiệm, chứng nhận, truy xuất, logistics, hợp đồng đến tài chính.
Một hướng đi khác được đặt ra tại diễn đàn là thị trường Halal.
Theo chuyên gia Dewi Suratty, Halal không chỉ giới hạn trong thực phẩm mà liên quan đến nhiều lĩnh vực như quần áo, mỹ phẩm, tài chính, du lịch và các dịch vụ khác dành cho cộng đồng Hồi giáo.
Xu hướng đáng chú ý là Halal ngày càng trở thành một yêu cầu thương mại. Tài liệu tham luận cho thấy Indonesia, Malaysia, UAE, Pakistan và nhiều thị trường khác đều có các cơ chế công nhận chứng nhận Halal riêng đối với hàng nhập khẩu. ASEAN vì vậy được đánh giá có cơ hội lớn để trở thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu Halal đáng tin cậy.
Các cơ hội đầu tư được xác định không chỉ nằm trong sản xuất thực phẩm Halal mà còn gồm nông nghiệp đạt chứng nhận, sản xuất phục vụ xuất khẩu, du lịch thân thiện với người Hồi giáo, chuỗi lạnh và hạ tầng logistics Halal.
Tuy nhiên, khó khăn lớn là nhận thức của doanh nghiệp còn hạn chế, tiêu chuẩn giữa các thị trường chưa đồng nhất và việc duy trì chứng nhận có thể phát sinh chi phí đáng kể. Giải pháp được đề xuất gồm đào tạo doanh nghiệp nhỏ và vừa, hài hòa tiêu chuẩn, mở rộng liên kết xuyên biên giới và sử dụng AI, blockchain, nền tảng số để giảm chi phí tuân thủ.
Sản phẩm công nghiệp nông thôn Việt Nam đang bước vào một cuộc cạnh tranh khác. Lợi thế từ nguyên liệu rẻ, nhân công rẻ và sản xuất số lượng lớn ngày càng không đủ.
Sản phẩm muốn đi xa phải trả lời được: nguyên liệu từ đâu, ai sản xuất, quy trình nào được áp dụng, phát thải ra sao, nguồn cung có ổn định không, chứng nhận nào được thị trường chấp nhận và ai chịu trách nhiệm khi chuỗi có vấn đề?
Câu hỏi cuối cùng vẫn là người Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị trong chuỗi.
Một sản phẩm bán giá cao ở nước ngoài nhưng người sản xuất chỉ nhận phần nhỏ chưa thể tạo thành chuỗi giá trị mạnh. Khi doanh nghiệp sở hữu thương hiệu, dữ liệu và phân phối, phần giá trị giữ lại trong nước có thể tăng.
Chuyển đổi xanh vì vậy không chỉ là thay bóng đèn hay dùng bao bì thân thiện môi trường. Đó là tái cấu trúc cả chuỗi từ vùng nguyên liệu, sản xuất, dữ liệu, tiêu chuẩn, logistics đến thị trường, thương hiệu và phân phối.
Nếu làm được, “xanh” không còn là khoản chi phí bắt buộc mà trở thành tấm vé vào thị trường, đồng thời giúp sản phẩm nông thôn Việt Nam giữ lại phần giá trị lớn hơn trong chuỗi thương mại toàn cầu.
![]() |
| Bà Đỗ Thị Minh Trâm- Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công thuộc Bộ Công Thương. Ảnh- Bích Liên |
Bà Đỗ Thị Minh Trâm, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương, nhấn mạnh chuyển đổi xanh ngày càng quan trọng với năng lực cạnh tranh và khả năng mở rộng thị trường của cơ sở công nghiệp nông thôn.