Thứ ba 22/09/2026 05:45
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Chính sách kinh tế vượt Covid-19 nên ưu tiên điều gì?

12/10/2020 00:00
Đại dịch Covid-19 đặt ra nhiều thách thức cho kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.
Chính sách kinh tế vượt Covid-19 nên ưu tiên điều gì?
Người dân mua hàng tại siêu thị ở Jena, Đức, vào ngày 6-4, trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng phát. (Ảnh: THX/TTXVN)

Trước tiên, đó là hàng chục triệu người thất nghiệp, giãn việc. Số liệu thất nghiệp của Mỹ cho thấy vẫn có trên 15 triệu người ở Mỹ đang nhận trợ cấp thất nghiệp hàng tuần, mặc dù con số này đã giảm từ mức hơn 22 triệu. Ở Việt Nam, sau đợt tái bùng phát dịch từ Đà Nẵng, con số 30 triệu người bị ảnh hưởng (mất việc làm, phải giãn việc, nghỉ luân phiên, giảm giờ làm) sẽ còn tăng đến bao nhiêu nữa là một nỗi lo.

Sự đứt gãy của chuỗi cung ứng và việc co cụm phòng thủ của các doanh nghiệp cũng là rõ ràng. Chi tiêu đầu tư vốn của công ty Mỹ đã quay lại mức sụt giảm của đợt khủng hoảng năm 2000-2001 và nhiều nhà kinh tế đang lo ngại nó sẽ giảm tiếp về mức sụt giảm của đợt năm 2007-2008.

Những số liệu này cho thấy một bức tranh ảm đạm: tổng cầu và tổng cung của nền kinh tế sẽ đều đột ngột giảm xuống. Tổng cầu giảm do thất nghiệp và mức tiết kiệm gia tăng (số liệu thống kê trong quí 2-2020 cho thấy người Mỹ đang tiết kiệm ở mức cao kỷ lục 30%, mức chưa từng thấy kể từ năm 1960). Tổng cung cũng bị co lại do doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, giảm chi tiêu vốn. Vì vậy, GDP của nhiều nền kinh tế đều rơi tự do 20-30% trong quí 2-2020.

Khi người dân tăng tiết kiệm, giảm chi tiêu còn doanh nghiệp thu hẹp kinh doanh, cắt giảm chi phí và đầu tư vốn, tất yếu cần một cú hích từ phía nhà nước để cân bằng lại sự thiếu hụt này. Vì vậy, rất nhiều nhà kinh tế học đều chỉ ra rằng cần một chính sách tài khóa mở rộng và nới lỏng tiền tệ từ nhà nước. Câu hỏi chỉ là: vậy chi tiền nên như thế nào, và ưu tiên lĩnh vực nào? Và, tài khóa với tiền tệ thì nên kết hợp ra sao?

Tài khóa, tiền tệ hay cả hai?

Biên bản họp ngày 27 và 28-7 của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã có một gợi ý rõ ràng. Biên bản lần này cho thấy sự đồng thuận của các thành viên Ủy ban Thị trường mở liên bang (FOMC) về sự cần thiết của một gói hỗ trợ tài khóa mới. Đáng chú ý nhất là đoạn “Chúng tôi kỳ vọng các chương trình hỗ trợ tài khóa có quy mô đáng kể - cả những chương trình đã ban hành và những chương trình dự kiến sẽ thông qua - cùng với sự hỗ trợ có hiệu quả của chính sách tiền tệ và các công cụ thanh khoản và cho vay của Fed sẽ tiếp tục thúc đẩy quá trình hồi phục kinh tế, tuy nhiên chúng tôi không kỳ vọng nền kinh tế sẽ hồi phục hoàn toàn vào cuối năm nay”.

Nhận định này chỉ khẳng định lại một điều mà Chủ tịch Fed Jerome Powell và các lãnh đạo khác của Fed đã nhiều lần bày tỏ: chính sách tiền tệ tự thân nó không thể cứu vãn được nền kinh tế trong dịch Covid-19 mà cần có sự hỗ trợ của chính sách tài khóa. Và dù phối hợp cả hai chính sách này thì các lãnh đạo Fed vẫn cho rằng nền kinh tế lớn nhất thế giới không thể hồi phục hoàn toàn vào cuối năm.

Ban biên tập của tờ Guardian vào đầu tháng 3-2020, khi dịch bệnh bùng phát trên phạm vi toàn cầu, đã nhận xét “Tất cả chúng ta nay đều đã là những người theo trường phái kinh tế Keynes”, đó là yêu cầu nhà nước phải tăng chi tiêu hỗ trợ nền kinh tế bằng các chính sách tài khóa.

Có nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là một nguyên nhân mang tính thực dụng, lãi suất điều hành chính sách của nhiều nền kinh tế đang tiệm cận mức 0%. Cắt giảm thêm lãi suất đã không còn dư địa nữa. Thế còn lãi suất âm? Cả Chủ tịch Fed và Thống đốc hiện tại của Ngân hàng Trung ương Anh đã từng bày tỏ nghi ngờ về hiệu quả của lãi suất âm.

Đó là một cách nhìn có tính thực dụng về những công cụ kinh tế sẵn có. Còn nếu nhìn ở một góc độ sâu sắc hơn, thì Joseph Stiglitz, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel, đưa ra một khuôn khổ phân tích thú vị.

Ông cho rằng về mặt kinh tế học vĩ mô, do dịch Covid-19, chi tiêu tiêu dùng sẽ sụt giảm vì các gia đình và công ty đều kiệt quệ tài chính, trong khi đó tình trạng phá sản diện rộng sẽ gây tổn thất vốn thông tin (informational capital) và vốn tổ chức (organizational capital), và các chủ thể kinh tế sẽ hành động thận trọng (như tăng tiết kiệm, giảm đầu tư vốn) vì những bất định do dịch bệnh và các biện pháp đối phó với nó (như phong tỏa và giãn cách xã hội) gây ra.

Ở bình diện kinh tế học vi mô, dịch bệnh như một loại thuế đánh vào các hoạt động cần tiếp xúc trực tiếp trong cự ly gần, làm thay đổi hành vi chi tiêu và tạo ra thay đổi mang tính cấu trúc ở nhiều thị trường (như các thị trường du lịch, vui chơi, giải trí, mua sắm...).

Dựa vào hiểu biết từ các lý thuyết kinh tế và lịch sử kinh tế, Stiglitz cho rằng chúng ta không thể để mặc cho thị trường tự điều chỉnh trước những thay đổi có tính cấu trúc và một chi phí thuế ngoại sinh như vậy (nhất là khi nó diễn ra quá đột ngột), mà cần có sự can thiệp của nhà nước.

Ông lấy ví dụ về sự tăng trưởng của những lĩnh vực cần ít nhân lực (thường là các lĩnh vực kỹ thuật cao và được tự động hóa cao độ) và sự thụt lùi của những lĩnh vực cần nhiều nhân lực (và do đó có nhiều tương tác trực tiếp). Nhà nước cần phải can thiệp để điều chỉnh hợp lý lại phân bổ nhân lực vì nhân viên phục vụ trong nhà hàng không thể chuyển nghề thành chuyên viên của công ty công nghệ chỉ sau một đêm.

Stiglitz tin rằng với những thay đổi có tính cấu trúc rộng rãi như vậy thì chúng sẽ tạo ra những bài toán thuộc phạm trù kinh tế học Keynes. Với khuôn khổ lý luận này, ông đã lý giải được vì sao mà chi tiêu tài khóa lại được nhiều người ủng hộ vào lúc này.

Có một điều nữa cũng đáng chú ý là câu hỏi “tiền đâu để chi tiêu công?”. Câu trả lời thường là: vay nợ. Nhưng ai sẽ cho chính phủ vay? Một trong những chủ thể quan trọng đang là các ngân hàng trung ương.

Việc các ngân hàng trung ương tăng sở hữu trái phiếu chính phủ đã trở thành một trạng thái bình thường mới. Chỉ trong vài tháng, số trái phiếu chính phủ Mỹ do Fed nắm giữ đã lên như “đi trực thăng” từ 2.000 tỉ đô la Mỹ hồi cuối năm 2019 lên hơn 4.400 tỉ đô la Mỹ vào giữa tháng 8-2020. Mức tăng này thực tế đã lớn hơn toàn bộ số trái phiếu chính phủ mà Fed đã mua từ năm 2009-2019. Ngân hàng Trung ương Anh cũng có động thái tương tự, mặc dù quy mô tuyệt đối nhỏ hơn nhưng về tốc độ tăng thì còn cao hơn Fed (tăng gần ba lần so với Fed tăng hai lần).

Như vậy, sự phối hợp cùng nhau trong việc bơm tiền hỗ trợ hồi phục kinh tế của ngân hàng trung ương và bộ tài chính đang trở thành một trạng thái “bình thường mới”. Việc Ngân hàng Trung ương Mỹ “in tiền” tài trợ nợ vay của chính phủ đang diễn ra với quy mô mạnh hơn dự đoán của một số nhà kinh tế hồi đầu dịch Covid-19. Nhưng xem ra nó lại thích hợp vào lúc này về cả lý luận và thực tiễn. Đơn giản là vì chúng ta cần chi tiêu tài khóa mạnh hơn.

Tiền nên ưu tiên vào đâu?

Với sự phối hợp của ngân hàng trung ương và bộ tài chính, các chính phủ đã có tiền rồi. Nhưng tiền nên chi vào đâu?

Trong ngắn hạn, rõ ràng có hai điểm đến bắt buộc phải chi tiền. Một là chi tiền cho các chương trình y tế chống dịch khẩn cấp, truy vết người nhiễm bệnh đồng thời đảm bảo hệ thống y tế công có thể hoạt động để chữa các loại bệnh khác cho người dân. Stiglitz chỉ ra điều đơn giản mà các nhà quản lý quỹ lớn của phố Wall cũng lặp đi lặp lại “không thể có hồi phục kinh tế mà không kiểm soát được virus”.

Điểm thứ hai, là phải hạn chế phá sản và sa thải. Nền kinh tế, như một cơ thể người vừa hết bệnh, không thể bật lại ngay sau dịch nếu như tế bào cơ bản của nó là các doanh nghiệp đều đã chết hoặc sa thải phần lớn nhân viên.

Điều này nhà kinh tế đoạt giải Nobel như Stiglitz và một người bạn làm chủ doanh nghiệp siêu nhỏ của tôi lý giải giống nhau. Bạn tôi nói: “Nếu cho nhân viên nghỉ việc hết, không trả lương thì khi hết dịch rất khó quay lại hoạt động sản xuất bình thường ngay vì đội ngũ cốt lõi đã đi tứ tán hết, tập hợp lại anh em rất là khó”. Có nghĩa là doanh nghiệp cần được hỗ trợ để giữ lại đội ngũ nhân viên càng nhiều càng tốt. Đó không thể chỉ là những hỗ trợ giãn, giảm thuế (không mấy ý nghĩa với doanh nghiệp bị lỗ) mà còn phải ở dạng tài trợ tiền để họ có thể giữ lại nhân viên như ở Anh là các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp giữ lại nhân viên đang nghỉ giãn việc (furlough scheme).

Vì vậy, tài trợ cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và doanh nghiệp thuê mướn nhiều lao động là cực kỳ quan trọng vì họ chính là tế bào cơ bản để đảm bảo nền kinh tế có thể bật dậy ngay sau dịch.

Nhưng lựa chọn lĩnh vực nào, loại hình kinh doanh nào để cứu trợ là một lựa chọn khó khăn. Có những công ty nợ đầm đìa, và lạc hậu với thời cuộc từ trước dịch Covid-19 - thứ mà các nhà kinh tế gọi là xác chết biết đi (zombies) thì cứu làm chi? Công ty mà nợ nhiều quá rồi thì cứu cũng khó tồn tại vì bản thân họ đã đánh mất đi sự linh hoạt tài chính (vì làm ra bao nhiêu thì đem trả nợ bấy nhiêu, lấy đâu dư địa mà tái đầu tư và tái cấu trúc dài hạn).

Bản thân Stiglitz chỉ trích việc Fed mua lại cả các trái phiếu công ty loại “rác” (junk bond) là một sai lầm vì đây là trái phiếu do các công ty nợ quá cao phát hành. Thế nhưng ở khía cạnh bình ổn thị trường tài chính, nhiều nhà phân tích cho rằng điều này là cần thiết nếu không muốn tạo ra một cuộc sụp đổ kiểu Lehman Brothers.

Khoảng trống giữa chủ trương và thực thi

Những phân tích ở trên chủ yếu là về vấn đề chủ trương. Nhưng từ chủ trương đến thực thi là cả một khoảng cách.

Việt Nam thực tế đã có những gói đầu tư công cũng như những gói hỗ trợ kinh tế cho người dân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Nhưng về mặt thực thi, những phản ánh của doanh nghiệp nhỏ và người lao động trực tiếp bị ảnh hưởng nặng nề với truyền thông cho thấy họ gặp rất nhiều trở ngại trong việc tiếp cận các gói hỗ trợ.

Trong khi đó, có những bài báo phản ánh một số dự án đầu tư công vẫn đang “án binh bất động”. Vì sao chúng ta vẫn đang lãng phí khoảng thời gian vàng để hỗ trợ các tế bào của nền kinh tế? Nếu qua khỏi thời gian vàng này, khi các tế bào đã chết, thì chi tiêu công có còn hiệu quả? Nếu địa phương đã không thể giải ngân đầu tư công, nên chăng chuyển các khoản tiền đó sang thành các khoản chi tiêu công khác như hỗ trợ để doanh nghiệp trả lương công nhân và có các chương trình trợ giá cho doanh nghiệp kinh doanh nhà hàng, khách sạn, phát các phiếu ăn uống, chi tiêu để thúc đẩy kinh tế như một số nước đã làm?

Khi nguồn lực chúng ta đã hạn chế thì chúng ta càng phải sử dụng chúng một cách khôn ngoan, hợp lý và đúng lúc. Dịch bệnh không phải là thời điểm để trục lợi.

Hồ Quốc Tuấn

Tin bài khác
ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

Trước những bất ổn địa chính trị, thương mại và năng lượng ngày càng gia tăng, ASEAN - Nhật Bản đang mở rộng hợp tác nhằm củng cố khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, bảo đảm an ninh năng lượng và tăng sức chống chịu cho nền kinh tế khu vực.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Một trong những thay đổi đáng chú ý trong Đề án hiện đại hóa hệ thống ngân hàng đến năm 2030 là định hướng mở rộng cách đánh giá doanh nghiệp khi cấp tín dụng. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn vay có thể được xem xét dựa nhiều hơn vào phương án sản xuất kinh doanh, dòng tiền và dữ liệu thanh toán, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tài sản bảo đảm.
R3 Lithium đến Việt Nam và bài toán làm chủ chuỗi vật liệu pin

R3 Lithium đến Việt Nam và bài toán làm chủ chuỗi vật liệu pin

Cuộc gặp giữa Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng và lãnh đạo R3 Lithium mở ra câu chuyện lớn hơn về vật liệu pin và chuỗi cung ứng khoáng sản chiến lược. R3 Lithium cho biết doanh nghiệp quan tâm khả năng hợp tác với các đối tác Việt Nam trong chuyển đổi xanh, đặc biệt ở công nghệ pin, tái chế và xử lý khoáng sản thiết yếu.
TP.Hồ Chí Minh đặt yêu cầu phát huy cao hơn giá trị nguồn lực đất đai, tài chính

TP.Hồ Chí Minh đặt yêu cầu phát huy cao hơn giá trị nguồn lực đất đai, tài chính

Tại Kỳ họp thứ 5 (Kỳ họp chuyên đề)HĐND thành phố yêu cầu khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực tài chính, ngân sách và đất đai được đặt song song với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm mở rộng không gian và tạo động lực phát triển mới cho thành phố.
Quy mô kinh tế Việt Nam "tăng tốc", bài toán phía sau vị trí thứ hai Đông Nam Á

Quy mô kinh tế Việt Nam "tăng tốc", bài toán phía sau vị trí thứ hai Đông Nam Á

Việc Việt Nam được dự báo vượt mốc 2.000 tỷ USD GDP tính theo sức mua tương đương (PPP), vươn lên vị trí thứ hai Đông Nam Á và lọt nhóm 22 nền kinh tế lớn nhất thế giới cho thấy quy mô thị trường và sức nặng của nền kinh tế đang gia tăng. Tuy nhiên, phía sau cột mốc đáng chú ý ấy còn là bài toán về năng suất, thu nhập bình quân đầu người và chất lượng tăng trưởng.
Nền kinh tế cần nhiều kênh vốn hơn tín dụng ngân hàng

Nền kinh tế cần nhiều kênh vốn hơn tín dụng ngân hàng

Dư nợ tín dụng đã vượt 20 triệu tỷ đồng, nhưng nhu cầu vốn cho tăng trưởng còn lớn hơn nhiều. Khi các dự án hạ tầng, đô thị và sản xuất cần nguồn vốn trung, dài hạn, nền kinh tế phải mở thêm những kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng.
UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

Hội nghị Kết nối đối tác khu vực công UEH 2026 cho thấy một hướng tiếp cận mới trong quan hệ giữa đại học và khu vực công: không dừng ở hợp tác, chia sẻ tri thức mà tiến tới cùng xác định vấn đề, thiết kế giải pháp, triển khai và tạo ra những giá trị có khả năng ứng dụng trong thực tiễn.
Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành đang chuyển từ giai đoạn thi công sang hoàn thiện và kiểm tra đồng bộ để chuẩn bị vận hành thử từ cuối tháng 9/2026. Trong khi nhiều gói thầu đã đạt trên 90% giá trị hợp đồng, áp lực lớn nhất hiện nằm ở khả năng khớp nối nhà ga, khu bay, hạ tầng kỹ thuật và các hệ thống phục vụ khai thác.
Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Kim ngạch thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ tiếp tục tăng mạnh, đạt khoảng 137,42 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô trao đổi ngày càng lớn mở thêm dư địa hợp tác, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu hai nền kinh tế chuyển mạnh từ tăng trưởng thương mại sang hợp tác sâu hơn về công nghệ, đầu tư, năng lượng và chuỗi cung ứng.
Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày 18/9, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định 1809/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính chuẩn bị tổ chức chương trình tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế không kèm phát hành trái phiếu, nhằm cập nhật bức tranh kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, tiền tệ và quản lý nợ công. Hoạt động này cũng mở thêm kênh đối thoại với thị trường vốn toàn cầu trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và hướng tới mức xếp hạng tín nhiệm đầu tư.
Đề xuất cơ chế 2 bước công nhận khu kinh tế đặc biệt

Đề xuất cơ chế 2 bước công nhận khu kinh tế đặc biệt

Bộ Tài chính đề xuất việc công nhận khu kinh tế đặc biệt được thực hiện theo cơ chế đánh giá hai bước: địa bàn phải đáp ứng đầy đủ 4 điều kiện đầu vào, sau đó đạt từ 90/100 điểm theo 5 nhóm tiêu chí mới được xem xét công nhận.
Hải Phòng bàn giải pháp nâng sức chống chịu của sản xuất trong nước

Hải Phòng bàn giải pháp nâng sức chống chịu của sản xuất trong nước

Trước những biến động ngày càng lớn của thương mại toàn cầu, Diễn đàn Phòng vệ thương mại 2026 tại Hải Phòng đặt trọng tâm vào nâng năng lực sản xuất, cảnh báo sớm rủi ro và hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó hiệu quả.
Rà soát pháp luật để khơi thông nguồn lực cho kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Rà soát pháp luật để khơi thông nguồn lực cho kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Bộ Tài chính đang đẩy mạnh tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, đồng thời tiếp tục hoàn thiện các cơ chế phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.
Chủ tịch VINASME Nguyễn Văn Thân đề xuất mở thêm kênh vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chủ tịch VINASME Nguyễn Văn Thân đề xuất mở thêm kênh vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) Nguyễn Văn Thân đề xuất một loạt giải pháp nhằm mở rộng chủ thể cung ứng vốn, khai thác dòng tiền và các tài sản hình thành trong quá trình kinh doanh.