Thứ hai 01/06/2026 08:06
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Chính sách kinh tế vượt Covid-19 nên ưu tiên điều gì?

12/10/2020 00:00
Đại dịch Covid-19 đặt ra nhiều thách thức cho kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.
Chính sách kinh tế vượt Covid-19 nên ưu tiên điều gì?
Người dân mua hàng tại siêu thị ở Jena, Đức, vào ngày 6-4, trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng phát. (Ảnh: THX/TTXVN)

Trước tiên, đó là hàng chục triệu người thất nghiệp, giãn việc. Số liệu thất nghiệp của Mỹ cho thấy vẫn có trên 15 triệu người ở Mỹ đang nhận trợ cấp thất nghiệp hàng tuần, mặc dù con số này đã giảm từ mức hơn 22 triệu. Ở Việt Nam, sau đợt tái bùng phát dịch từ Đà Nẵng, con số 30 triệu người bị ảnh hưởng (mất việc làm, phải giãn việc, nghỉ luân phiên, giảm giờ làm) sẽ còn tăng đến bao nhiêu nữa là một nỗi lo.

Sự đứt gãy của chuỗi cung ứng và việc co cụm phòng thủ của các doanh nghiệp cũng là rõ ràng. Chi tiêu đầu tư vốn của công ty Mỹ đã quay lại mức sụt giảm của đợt khủng hoảng năm 2000-2001 và nhiều nhà kinh tế đang lo ngại nó sẽ giảm tiếp về mức sụt giảm của đợt năm 2007-2008.

Những số liệu này cho thấy một bức tranh ảm đạm: tổng cầu và tổng cung của nền kinh tế sẽ đều đột ngột giảm xuống. Tổng cầu giảm do thất nghiệp và mức tiết kiệm gia tăng (số liệu thống kê trong quí 2-2020 cho thấy người Mỹ đang tiết kiệm ở mức cao kỷ lục 30%, mức chưa từng thấy kể từ năm 1960). Tổng cung cũng bị co lại do doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, giảm chi tiêu vốn. Vì vậy, GDP của nhiều nền kinh tế đều rơi tự do 20-30% trong quí 2-2020.

Khi người dân tăng tiết kiệm, giảm chi tiêu còn doanh nghiệp thu hẹp kinh doanh, cắt giảm chi phí và đầu tư vốn, tất yếu cần một cú hích từ phía nhà nước để cân bằng lại sự thiếu hụt này. Vì vậy, rất nhiều nhà kinh tế học đều chỉ ra rằng cần một chính sách tài khóa mở rộng và nới lỏng tiền tệ từ nhà nước. Câu hỏi chỉ là: vậy chi tiền nên như thế nào, và ưu tiên lĩnh vực nào? Và, tài khóa với tiền tệ thì nên kết hợp ra sao?

Tài khóa, tiền tệ hay cả hai?

Biên bản họp ngày 27 và 28-7 của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã có một gợi ý rõ ràng. Biên bản lần này cho thấy sự đồng thuận của các thành viên Ủy ban Thị trường mở liên bang (FOMC) về sự cần thiết của một gói hỗ trợ tài khóa mới. Đáng chú ý nhất là đoạn “Chúng tôi kỳ vọng các chương trình hỗ trợ tài khóa có quy mô đáng kể - cả những chương trình đã ban hành và những chương trình dự kiến sẽ thông qua - cùng với sự hỗ trợ có hiệu quả của chính sách tiền tệ và các công cụ thanh khoản và cho vay của Fed sẽ tiếp tục thúc đẩy quá trình hồi phục kinh tế, tuy nhiên chúng tôi không kỳ vọng nền kinh tế sẽ hồi phục hoàn toàn vào cuối năm nay”.

Nhận định này chỉ khẳng định lại một điều mà Chủ tịch Fed Jerome Powell và các lãnh đạo khác của Fed đã nhiều lần bày tỏ: chính sách tiền tệ tự thân nó không thể cứu vãn được nền kinh tế trong dịch Covid-19 mà cần có sự hỗ trợ của chính sách tài khóa. Và dù phối hợp cả hai chính sách này thì các lãnh đạo Fed vẫn cho rằng nền kinh tế lớn nhất thế giới không thể hồi phục hoàn toàn vào cuối năm.

Ban biên tập của tờ Guardian vào đầu tháng 3-2020, khi dịch bệnh bùng phát trên phạm vi toàn cầu, đã nhận xét “Tất cả chúng ta nay đều đã là những người theo trường phái kinh tế Keynes”, đó là yêu cầu nhà nước phải tăng chi tiêu hỗ trợ nền kinh tế bằng các chính sách tài khóa.

Có nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là một nguyên nhân mang tính thực dụng, lãi suất điều hành chính sách của nhiều nền kinh tế đang tiệm cận mức 0%. Cắt giảm thêm lãi suất đã không còn dư địa nữa. Thế còn lãi suất âm? Cả Chủ tịch Fed và Thống đốc hiện tại của Ngân hàng Trung ương Anh đã từng bày tỏ nghi ngờ về hiệu quả của lãi suất âm.

Đó là một cách nhìn có tính thực dụng về những công cụ kinh tế sẵn có. Còn nếu nhìn ở một góc độ sâu sắc hơn, thì Joseph Stiglitz, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel, đưa ra một khuôn khổ phân tích thú vị.

Ông cho rằng về mặt kinh tế học vĩ mô, do dịch Covid-19, chi tiêu tiêu dùng sẽ sụt giảm vì các gia đình và công ty đều kiệt quệ tài chính, trong khi đó tình trạng phá sản diện rộng sẽ gây tổn thất vốn thông tin (informational capital) và vốn tổ chức (organizational capital), và các chủ thể kinh tế sẽ hành động thận trọng (như tăng tiết kiệm, giảm đầu tư vốn) vì những bất định do dịch bệnh và các biện pháp đối phó với nó (như phong tỏa và giãn cách xã hội) gây ra.

Ở bình diện kinh tế học vi mô, dịch bệnh như một loại thuế đánh vào các hoạt động cần tiếp xúc trực tiếp trong cự ly gần, làm thay đổi hành vi chi tiêu và tạo ra thay đổi mang tính cấu trúc ở nhiều thị trường (như các thị trường du lịch, vui chơi, giải trí, mua sắm...).

Dựa vào hiểu biết từ các lý thuyết kinh tế và lịch sử kinh tế, Stiglitz cho rằng chúng ta không thể để mặc cho thị trường tự điều chỉnh trước những thay đổi có tính cấu trúc và một chi phí thuế ngoại sinh như vậy (nhất là khi nó diễn ra quá đột ngột), mà cần có sự can thiệp của nhà nước.

Ông lấy ví dụ về sự tăng trưởng của những lĩnh vực cần ít nhân lực (thường là các lĩnh vực kỹ thuật cao và được tự động hóa cao độ) và sự thụt lùi của những lĩnh vực cần nhiều nhân lực (và do đó có nhiều tương tác trực tiếp). Nhà nước cần phải can thiệp để điều chỉnh hợp lý lại phân bổ nhân lực vì nhân viên phục vụ trong nhà hàng không thể chuyển nghề thành chuyên viên của công ty công nghệ chỉ sau một đêm.

Stiglitz tin rằng với những thay đổi có tính cấu trúc rộng rãi như vậy thì chúng sẽ tạo ra những bài toán thuộc phạm trù kinh tế học Keynes. Với khuôn khổ lý luận này, ông đã lý giải được vì sao mà chi tiêu tài khóa lại được nhiều người ủng hộ vào lúc này.

Có một điều nữa cũng đáng chú ý là câu hỏi “tiền đâu để chi tiêu công?”. Câu trả lời thường là: vay nợ. Nhưng ai sẽ cho chính phủ vay? Một trong những chủ thể quan trọng đang là các ngân hàng trung ương.

Việc các ngân hàng trung ương tăng sở hữu trái phiếu chính phủ đã trở thành một trạng thái bình thường mới. Chỉ trong vài tháng, số trái phiếu chính phủ Mỹ do Fed nắm giữ đã lên như “đi trực thăng” từ 2.000 tỉ đô la Mỹ hồi cuối năm 2019 lên hơn 4.400 tỉ đô la Mỹ vào giữa tháng 8-2020. Mức tăng này thực tế đã lớn hơn toàn bộ số trái phiếu chính phủ mà Fed đã mua từ năm 2009-2019. Ngân hàng Trung ương Anh cũng có động thái tương tự, mặc dù quy mô tuyệt đối nhỏ hơn nhưng về tốc độ tăng thì còn cao hơn Fed (tăng gần ba lần so với Fed tăng hai lần).

Như vậy, sự phối hợp cùng nhau trong việc bơm tiền hỗ trợ hồi phục kinh tế của ngân hàng trung ương và bộ tài chính đang trở thành một trạng thái “bình thường mới”. Việc Ngân hàng Trung ương Mỹ “in tiền” tài trợ nợ vay của chính phủ đang diễn ra với quy mô mạnh hơn dự đoán của một số nhà kinh tế hồi đầu dịch Covid-19. Nhưng xem ra nó lại thích hợp vào lúc này về cả lý luận và thực tiễn. Đơn giản là vì chúng ta cần chi tiêu tài khóa mạnh hơn.

Tiền nên ưu tiên vào đâu?

Với sự phối hợp của ngân hàng trung ương và bộ tài chính, các chính phủ đã có tiền rồi. Nhưng tiền nên chi vào đâu?

Trong ngắn hạn, rõ ràng có hai điểm đến bắt buộc phải chi tiền. Một là chi tiền cho các chương trình y tế chống dịch khẩn cấp, truy vết người nhiễm bệnh đồng thời đảm bảo hệ thống y tế công có thể hoạt động để chữa các loại bệnh khác cho người dân. Stiglitz chỉ ra điều đơn giản mà các nhà quản lý quỹ lớn của phố Wall cũng lặp đi lặp lại “không thể có hồi phục kinh tế mà không kiểm soát được virus”.

Điểm thứ hai, là phải hạn chế phá sản và sa thải. Nền kinh tế, như một cơ thể người vừa hết bệnh, không thể bật lại ngay sau dịch nếu như tế bào cơ bản của nó là các doanh nghiệp đều đã chết hoặc sa thải phần lớn nhân viên.

Điều này nhà kinh tế đoạt giải Nobel như Stiglitz và một người bạn làm chủ doanh nghiệp siêu nhỏ của tôi lý giải giống nhau. Bạn tôi nói: “Nếu cho nhân viên nghỉ việc hết, không trả lương thì khi hết dịch rất khó quay lại hoạt động sản xuất bình thường ngay vì đội ngũ cốt lõi đã đi tứ tán hết, tập hợp lại anh em rất là khó”. Có nghĩa là doanh nghiệp cần được hỗ trợ để giữ lại đội ngũ nhân viên càng nhiều càng tốt. Đó không thể chỉ là những hỗ trợ giãn, giảm thuế (không mấy ý nghĩa với doanh nghiệp bị lỗ) mà còn phải ở dạng tài trợ tiền để họ có thể giữ lại nhân viên như ở Anh là các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp giữ lại nhân viên đang nghỉ giãn việc (furlough scheme).

Vì vậy, tài trợ cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và doanh nghiệp thuê mướn nhiều lao động là cực kỳ quan trọng vì họ chính là tế bào cơ bản để đảm bảo nền kinh tế có thể bật dậy ngay sau dịch.

Nhưng lựa chọn lĩnh vực nào, loại hình kinh doanh nào để cứu trợ là một lựa chọn khó khăn. Có những công ty nợ đầm đìa, và lạc hậu với thời cuộc từ trước dịch Covid-19 - thứ mà các nhà kinh tế gọi là xác chết biết đi (zombies) thì cứu làm chi? Công ty mà nợ nhiều quá rồi thì cứu cũng khó tồn tại vì bản thân họ đã đánh mất đi sự linh hoạt tài chính (vì làm ra bao nhiêu thì đem trả nợ bấy nhiêu, lấy đâu dư địa mà tái đầu tư và tái cấu trúc dài hạn).

Bản thân Stiglitz chỉ trích việc Fed mua lại cả các trái phiếu công ty loại “rác” (junk bond) là một sai lầm vì đây là trái phiếu do các công ty nợ quá cao phát hành. Thế nhưng ở khía cạnh bình ổn thị trường tài chính, nhiều nhà phân tích cho rằng điều này là cần thiết nếu không muốn tạo ra một cuộc sụp đổ kiểu Lehman Brothers.

Khoảng trống giữa chủ trương và thực thi

Những phân tích ở trên chủ yếu là về vấn đề chủ trương. Nhưng từ chủ trương đến thực thi là cả một khoảng cách.

Việt Nam thực tế đã có những gói đầu tư công cũng như những gói hỗ trợ kinh tế cho người dân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Nhưng về mặt thực thi, những phản ánh của doanh nghiệp nhỏ và người lao động trực tiếp bị ảnh hưởng nặng nề với truyền thông cho thấy họ gặp rất nhiều trở ngại trong việc tiếp cận các gói hỗ trợ.

Trong khi đó, có những bài báo phản ánh một số dự án đầu tư công vẫn đang “án binh bất động”. Vì sao chúng ta vẫn đang lãng phí khoảng thời gian vàng để hỗ trợ các tế bào của nền kinh tế? Nếu qua khỏi thời gian vàng này, khi các tế bào đã chết, thì chi tiêu công có còn hiệu quả? Nếu địa phương đã không thể giải ngân đầu tư công, nên chăng chuyển các khoản tiền đó sang thành các khoản chi tiêu công khác như hỗ trợ để doanh nghiệp trả lương công nhân và có các chương trình trợ giá cho doanh nghiệp kinh doanh nhà hàng, khách sạn, phát các phiếu ăn uống, chi tiêu để thúc đẩy kinh tế như một số nước đã làm?

Khi nguồn lực chúng ta đã hạn chế thì chúng ta càng phải sử dụng chúng một cách khôn ngoan, hợp lý và đúng lúc. Dịch bệnh không phải là thời điểm để trục lợi.

Hồ Quốc Tuấn

Tin bài khác
Ông Phan Đức Trung: “Muốn thu hút dòng vốn quốc tế, trước hết phải có cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả”

Ông Phan Đức Trung: “Muốn thu hút dòng vốn quốc tế, trước hết phải có cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả”

“Trong lĩnh vực tài sản số thì doanh nghiệp Việt Nam có một lợi thế đáng kể về công nghệ. Chúng ta có đội ngũ kỹ sư giỏi, khả năng phát triển sản phẩm nhanh và chi phí cạnh tranh. Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất hiện nay lại nằm ở năng lực pháp chế và tuân thủ pháp luật. Có thể nói doanh nghiệp Việt đang khá yếu ở khía cạnh này.”- Ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam.
Đường sắt liên vận Việt Nam - Nga: Giải pháp tối ưu chi phí và bứt phá lợi nhuận

Đường sắt liên vận Việt Nam - Nga: Giải pháp tối ưu chi phí và bứt phá lợi nhuận

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng Á - Âu đang trải qua làn sóng tái cấu trúc mạnh mẽ, nhu cầu tìm kiếm các hành lang vận tải ổn định và ít biến động trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Với lợi thế rút ngắn thời gian so với đường hải hải truyền thống và tối ưu chi phí so với đường hàng không, vận tải đường sắt liên vận quốc tế đang nổi lên như một lựa chọn chiến lược, mở ra cánh cửa tối đa hóa lợi nhuận cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam sang thị trường Liên bang Nga.
Chủ tịch Quốc hội Singapore: Làn sóng doanh nghiệp sắp đổ bộ vào logistics Việt Nam

Chủ tịch Quốc hội Singapore: Làn sóng doanh nghiệp sắp đổ bộ vào logistics Việt Nam

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore, ngày 30/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có cuộc hội kiến quan trọng với Chủ tịch Quốc hội nước bạn, ông Seah Kian Peng. Cuộc gặp mở ra những tín hiệu chuyển dịch dòng vốn cực mạnh từ các tập đoàn đảo quốc sư tử vào thị trường Việt Nam.
Việt Nam - Lào tăng tốc kết nối hạ tầng giao thông chiến lược toàn diện

Việt Nam - Lào tăng tốc kết nối hạ tầng giao thông chiến lược toàn diện

Việt Nam - Lào thúc đẩy hợp tác hạ tầng giao thông chiến lược, hướng tới phát triển đồng bộ, hiện đại, nâng cao kết nối liên vùng, thúc đẩy thương mại và củng cố quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai quốc gia.
Dòng vốn hơn 128.000 tỷ đồng cùng 110 dự án đầu tư liên tiếp đổ vào Gia Lai trong tháng 5

Dòng vốn hơn 128.000 tỷ đồng cùng 110 dự án đầu tư liên tiếp đổ vào Gia Lai trong tháng 5

Từ đầu năm 2026 đến nay, Gia Lai thu hút 110 dự án mới, đạt gần 65% kế hoạch năm, cho thấy sức hút đầu tư ngày càng tăng của địa phương.
Từ CBAM đến ESG: Doanh nghiệp Hải Phòng chuẩn bị gì cho cuộc chơi mới?

Từ CBAM đến ESG: Doanh nghiệp Hải Phòng chuẩn bị gì cho cuộc chơi mới?

Ngày 29/5/2026, tại Hội trường Trung tâm TP Hải Phòng đã diễn ra tọa đàm “Ứng phó CBAM và tiêu chuẩn REACH – ZDHC: Doanh nghiệp chuyển đổi xanh để nâng cao năng lực cạnh tranh”, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội doanh nghiệp, chuyên gia năng lượng – môi trường, các khu công nghiệp và đông đảo doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu trên địa bàn thành phố.
Việt Nam - Lào tăng hợp tác phát triển giao thông thông minh và quản lý đường bộ số

Việt Nam - Lào tăng hợp tác phát triển giao thông thông minh và quản lý đường bộ số

Việt Nam - Lào tăng cường chia sẻ kinh nghiệm về ứng dụng công nghệ trong quản lý, bảo trì hạ tầng giao thông đường bộ, phát triển hệ thống giao thông thông minh và thu phí điện tử nhằm nâng cao hiệu quả vận hành, bảo đảm an toàn giao thông.
Quản lý thuế thương mại điện tử theo dòng tiền nhằm hạn chế thất thu hiệu quả

Quản lý thuế thương mại điện tử theo dòng tiền nhằm hạn chế thất thu hiệu quả

Quản lý thuế thương mại điện tử đang chuyển hướng theo dòng tiền, khi giao dịch số bùng nổ buộc cơ quan chức năng đổi cách tiếp cận, tăng minh bạch nhưng vẫn phải giảm áp lực tuân thủ.
Xây dựng “lá chắn pháp lý” cho Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam

Xây dựng “lá chắn pháp lý” cho Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam

“Trong bối cảnh các mô hình tài chính và công nghệ liên tục đổi mới, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý và hạ tầng giải quyết tranh chấp theo hướng linh hoạt, hiện đại và tiệm cận thông lệ quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường tài chính trong tương lai.- GS.TS. Lê Hồng Hạnh – Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) nhận định.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Phát triển đường sắt phải làm chủ công nghệ chiến lược

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Phát triển đường sắt phải làm chủ công nghệ chiến lược

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh yêu cầu các đơn vị nghiên cứu công nghệ đường sắt phải xác định rõ lộ trình, sản phẩm cụ thể, tăng năng lực tự chủ và hình thành hệ sinh thái công nghiệp nội địa phục vụ các dự án lớn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thúc đẩy đột phá hợp tác kinh tế với Thái Lan

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thúc đẩy đột phá hợp tác kinh tế với Thái Lan

Tại cuộc hội đàm ở Bangkok, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul nhất trí thúc đẩy các đột phá mới trong hợp tác kinh tế, công nghệ, logistics và kết nối chuỗi cung ứng, hướng tới nâng kim ngạch thương mại song phương lên 25 tỷ USD theo hướng cân bằng, bền vững.
Bộ Xây Dựng đơn giản hóa thủ tục quản lý vật liệu xây dựng

Bộ Xây Dựng đơn giản hóa thủ tục quản lý vật liệu xây dựng

Theo Quyết định số 788/QĐ-BXD ngày 25/5/2026 của Bộ Xây dựng, thủ tục hành chính bị bãi bỏ là thủ tục “Công bố hợp quy sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng”.
Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc: Doanh nghiệp công nghệ Việt phải dấn thân vào công nghệ lõi

Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc: Doanh nghiệp công nghệ Việt phải dấn thân vào công nghệ lõi

Theo Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc, để tạo đột phá trong phát triển kinh tế số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, các tập đoàn công nghệ lớn của Việt Nam cần mạnh dạn bước vào những lĩnh vực công nghệ chiến lược như AI, bán dẫn, 5G, 6G thay vì chỉ dừng ở gia công phần mềm và ứng dụng công nghệ sẵn có.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Việt Nam bứt phá thành trung tâm công nghệ toàn cầu

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Việt Nam bứt phá thành trung tâm công nghệ toàn cầu

Theo Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng, Việt Nam đang hội tụ đầy đủ điều kiện để thu hút dòng vốn công nghệ chiến lược, từng bước trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và tài chính quan trọng trong khu vực.
Việt Nam thúc đẩy cơ chế huy động vốn cho AI, bán dẫn và công nghệ số

Việt Nam thúc đẩy cơ chế huy động vốn cho AI, bán dẫn và công nghệ số

Tại Diễn đàn Đầu tư đổi mới sáng tạo Việt Nam 2026, nhiều chuyên gia, quỹ đầu tư và cơ quan quản lý cho rằng Việt Nam cần sớm hoàn thiện cơ chế thu hút dòng vốn dài hạn, tạo động lực phát triển các ngành công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và công nghệ số.