![]() |
Sau 18 năm thực hiện, chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ngày càng khẳng định vai trò trong hệ thống an sinh xã hội. Bên cạnh hỗ trợ thu nhập cho người mất việc, chính sách này còn góp phần kết nối cung - cầu lao động, thúc đẩy đào tạo nghề và hỗ trợ doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực.
Theo ông Lê Quang Trung, nguyên Phó cục trưởng phụ trách Cục Việc làm (Bộ Nội vụ), một trong những kết quả đáng ghi nhận là số người tham gia BHTN tăng mạnh qua các năm.
Đến quý II/2026, cả nước có khoảng 17,05 triệu người tham gia BHTN, cho thấy mức độ bao phủ ngày càng rộng của chính sách. Cùng với đó, số người được giải quyết trợ cấp thất nghiệp, tư vấn việc làm và hỗ trợ đào tạo nghề cũng tăng đáng kể trong quá trình triển khai.
Đối với người lao động, trợ cấp thất nghiệp là nguồn tài chính quan trọng trong giai đoạn gián đoạn thu nhập. Ngoài khoản trợ cấp hằng tháng, người đủ điều kiện còn được hưởng bảo hiểm y tế, tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề theo quy định.
Tuy nhiên, theo ông Trung, giá trị của BHTN không chỉ nằm ở số tiền chi trả. Thông qua hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm, người thất nghiệp có cơ hội tiếp cận thông tin tuyển dụng, đánh giá lại năng lực và lựa chọn hướng chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp.
Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ, cán bộ tư vấn có thể nắm bắt trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng và nhu cầu tìm việc của từng người. Đây cũng là nguồn dữ liệu có giá trị để phân tích những biến động của thị trường lao động.
Chẳng hạn, người từng làm việc trong ngành may mặc có thể được giới thiệu doanh nghiệp đang tuyển dụng cùng lĩnh vực hoặc tư vấn học thêm kỹ năng để chuyển sang vị trí khác. Với lao động có chuyên môn nhưng chưa tìm được việc phù hợp, thông tin tuyển dụng liên vùng giúp mở rộng cơ hội tiếp cận doanh nghiệp.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, có thể khai thác thông tin từ các trung tâm dịch vụ việc làm để tìm kiếm nhân sự, giảm thời gian và chi phí tuyển dụng.
Ông Trung cho rằng cần nhìn nhận BHTN ở phạm vi rộng hơn một chính sách hỗ trợ an sinh. Đây còn là công cụ góp phần phát triển nguồn nhân lực, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả vận hành của thị trường lao động.
Tại Hà Nội, hoạt động triển khai BHTN đang được điều chỉnh theo hướng tăng cường tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ người lao động quay trở lại thị trường sớm hơn.
Ông Vũ Quang Thành, Phó giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội, cho biết đơn vị không chỉ tập trung tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chế độ mà còn chú trọng phân loại nhu cầu của người thất nghiệp ngay từ đầu.
Người lao động được tư vấn để xác định hướng đi phù hợp, gồm tiếp tục tìm việc theo chuyên môn, chuyển đổi nghề nghiệp hoặc tham gia đào tạo, nâng cao kỹ năng.
Với những người có khả năng quay lại làm việc ngay, hoạt động kết nối tuyển dụng được ưu tiên triển khai sớm, thay vì chỉ tập trung vào quá trình hưởng trợ cấp.
Để mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm, trung tâm duy trì các phiên giao dịch định kỳ, phiên chuyên đề theo ngành nghề, nhóm lao động và hoạt động kết nối trực tuyến với các địa phương.
Các hình thức này giúp người tìm việc tiếp cận nhiều vị trí tuyển dụng, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp tìm kiếm nhân sự phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
![]() |
Song song với hoạt động trực tiếp, việc ứng dụng công nghệ cũng được đẩy mạnh, từ tiếp nhận hồ sơ qua cổng dịch vụ công đến tư vấn trực tuyến và cung cấp thông tin tuyển dụng trên môi trường số.
Theo ông Thành, quá trình cung cấp thông tin thị trường lao động tại trung tâm được triển khai qua bốn bước: thu thập dữ liệu cung - cầu lao động; tổng hợp, phân tích theo trình độ, kỹ năng và vị trí việc làm; tổ chức kết nối tuyển dụng; xây dựng các sản phẩm thông tin phục vụ người lao động và doanh nghiệp.
Cách làm này hướng tới hình thành hệ thống dữ liệu phản ánh sát nhu cầu nhân lực, giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch tuyển dụng và người lao động có thêm căn cứ lựa chọn nghề nghiệp.
Dù đạt nhiều kết quả, việc khai thác dữ liệu từ chính sách BHTN để phục vụ thị trường lao động vẫn còn những hạn chế.
Theo ông Thành, dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị chưa được liên thông đầy đủ. Việc cập nhật thông tin về nhu cầu tuyển dụng, tình trạng cắt giảm lao động và biến động ngành nghề ở một số thời điểm chưa theo kịp thực tế.
Điều này ảnh hưởng đến khả năng đưa ra cảnh báo sớm về những ngành thiếu nhân lực hoặc có nguy cơ dư thừa lao động.
Trong bối cảnh doanh nghiệp đẩy mạnh tự động hóa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và điều chỉnh mô hình sản xuất, nhu cầu về kỹ năng nghề đang thay đổi nhanh. Nếu thiếu dữ liệu cập nhật, hoạt động đào tạo có thể không theo kịp yêu cầu tuyển dụng.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, thông tin thị trường lao động chính xác còn giúp xác định mặt bằng kỹ năng, dự kiến nhu cầu nhân sự và lựa chọn phương án đào tạo phù hợp, hạn chế tuyển dụng thiếu hoặc không đúng chuyên môn.
Hai chuyên gia cho rằng cần chuyển từ cung cấp thông tin thụ động sang phân tích, dự báo và điều tiết chủ động. Trong đó, việc liên thông dữ liệu giữa cơ quan quản lý lao động, bảo hiểm xã hội, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng.
Bên cạnh dự báo ngắn hạn, các trung tâm dịch vụ việc làm cần từng bước nâng cao năng lực dự báo trung và dài hạn, nhất là với những ngành chịu tác động mạnh của chuyển đổi số.
Đồng thời, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, mở rộng dịch vụ trực tuyến và nâng cao chất lượng tư vấn sẽ giúp người lao động tiếp cận chính sách thuận tiện hơn.
Theo ông Trung, thông tin thị trường lao động có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Nếu không nắm rõ người lao động có kỹ năng gì, doanh nghiệp cần nhân lực ra sao, việc đào tạo và kết nối việc làm khó đạt hiệu quả.
Sau 18 năm, yêu cầu đặt ra với BHTN không chỉ là giải quyết chế độ đúng và kịp thời, mà còn phải rút ngắn thời gian thất nghiệp, hỗ trợ chuyển đổi kỹ năng và đáp ứng tốt hơn nhu cầu tuyển dụng. Đây cũng là hướng đi để chính sách phát huy đồng thời vai trò bảo đảm an sinh và phát triển thị trường lao động.