Chủ nhật 29/03/2026 08:37
Hotline: 024.355.63.010
Góc nhìn Chuyên gia

Bài học kinh doanh từ bà bán xôi: Vì sao mô hình nhỏ vẫn sống khỏe?

Không học kinh tế bài bản vẫn có thể vận hành một mô hình bán hàng hiệu quả. Từ câu chuyện một bà bán xôi, có thể thấy rõ cách kinh tế vỉa hè vận hành theo những nguyên lý rất thực tế: tối ưu chi phí, kiểm soát dòng tiền, định vị sản phẩm, giữ chân khách hàng và cũng bộc lộ rõ giới hạn nếu muốn mở rộng quy mô.

Người ta thường xem vỉa hè là phần rìa của nền kinh tế, mang tính tự phát, nhỏ lẻ và khó đo đếm. Cách nhìn đó không sai, nhưng chưa đủ. Nếu quan sát kỹ, kinh tế vỉa hè không đứng ngoài thị trường mà nằm ngay trong phần gốc của đời sống tiêu dùng đô thị. Không có quảng cáo rầm rộ, không có phân tích dữ liệu cầu kỳ, nhưng người bán vỉa hè lại hiểu rất rõ khách của mình cần gì, vì mỗi ngày họ đều phải cạnh tranh bằng chất lượng, giá cả và sự ổn định.

Giữa nhịp sống Hà Nội tất bật, gánh xôi nhỏ của người phụ nữ vẫn đỏ lửa mỗi sớm mai, nuôi sống một góc đời bằng sự cần mẫn, khéo léo và chữ tín với khách quen.
Giữa nhịp sống Hà Nội tất bật, gánh xôi nhỏ của người phụ nữ vẫn đỏ lửa mỗi sớm mai, nuôi sống một góc đời bằng sự cần mẫn, khéo léo và chữ tín với khách quen (Ảnh: AI.T.L).

Một gánh xôi buổi sáng có thể không được gọi là doanh nghiệp, nhưng cách nó vận hành thì không khác một mô hình kinh doanh thu nhỏ. Khách có thể đổi món mỗi ngày, đổi hàng quán mỗi tuần, và chỉ cần hôm nay xôi hơi sượng, mất khách là chuyện xảy ra rất nhanh. Ở một góc phố lúc 6 giờ sáng, trong chưa đầy 1 mét vuông có thể xuất hiện 4 hàng ăn đứng cạnh nhau. Mỗi hàng bán vài chục đến hơn trăm suất mỗi buổi sáng, tổng lượng giao dịch tạo ra là không hề nhỏ.

Theo một số thống kê tại TP.HCM, khu vực kinh tế phi chính thức và vỉa hè chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu việc làm, đóng góp tới hơn 30% lực lượng lao động. Dù nhiều hoạt động không được phản ánh đầy đủ trong chỉ số GDP chính thức, dòng tiền mà khu vực này tạo ra vẫn là thật, đều đặn và thiết yếu với một bộ phận lớn cư dân đô thị. Những ổ bánh mì đầu ngõ, hàng bún riêu sau cổng công ty hay ly cà phê giá rẻ thực chất đang trở thành lớp đệm sinh hoạt giúp hàng triệu lao động duy trì nếp sống trong bối cảnh chi phí ngày càng tăng.

Từ đó có thể thấy, hiểu được kinh tế vỉa hè là hiểu được tầng lớp tiêu dùng rộng nhất ở Việt Nam: đông, cần nhanh, thích quen, nhạy với giá và không dễ tha thứ cho chất lượng thất thường. Khi nhìn một người cố bán vài chục hộp xôi trước 9 giờ sáng, thực chất là đang nhìn vào một mắt xích nhỏ trong một thị trường vận hành rất logic.

Để làm ra một hộp xôi, người bán phải chuẩn bị từ gạo nếp, đỗ, hành, thịt, nước, nồi hấp, thời gian đến cả việc thức dậy từ 3 giờ sáng. Toàn bộ phần đó chính là đầu vào (input). Còn hộp xôi nóng giao tới tay khách chính là đầu ra (output). Giá bán của hộp xôi không thể được quyết định tùy hứng, mà phải bám vào mặt bằng thị trường và khả năng chi trả của người mua. Đó là tư duy sản xuất hàng hóa ở cấp độ đơn giản nhất: có đầu vào, đầu ra và có người sẵn sàng trả tiền.

Khi đã là sản phẩm, hộp xôi buộc phải được tối ưu. Người bán phải tính toán tỷ lệ nguyên liệu sao cho vừa giữ chất lượng, vừa giảm giá vốn. Chỉ cần tiết kiệm được 300 đồng trên mỗi hộp, với 100 hộp một ngày đã là 30.000 đồng, tương đương khoảng 900.000 đồng mỗi tháng. Những con số rất nhỏ ở cấp độ đơn lẻ lại trở nên đáng kể khi cộng dồn. Đó chính là cách tư duy của quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management) ở quy mô vi mô. Công ty lớn quản lý container, kho lạnh, logistics; bà bán xôi quản lý gạo từ chợ, thời gian nấu, hộp đựng và vị trí bán. Bản chất không khác nhau: cùng là tối ưu đầu vào để đầu ra có sức cạnh tranh.

Ở tầm rộng hơn, nền kinh tế quốc gia cũng vận hành theo logic tương tự. Việt Nam nhập nhiều yếu tố đầu vào như xăng dầu, nguyên liệu thô, máy móc, rồi chế biến để tạo đầu ra như quần áo, điện thoại, hạt điều. Nếu không tối ưu chuỗi cung ứng, giá thành cao thì hàng hóa sẽ mất sức cạnh tranh. Bài học từ gánh xôi vì vậy không chỉ nằm ở chuyện mưu sinh, mà còn phản ánh một logic kinh tế có tính phổ quát.

Một khái niệm quan trọng khác có thể nhìn thấy rất rõ từ gánh xôi là chi phí biên (marginal cost). Hộp xôi đầu tiên luôn là hộp tốn kém nhất, vì phải gánh cả chi phí chuẩn bị: nấu nếp, luộc đỗ, phi hành, sắp xếp dụng cụ, ra chỗ bán. Nhưng từ hộp thứ hai, thứ ba đến hộp thứ một trăm, người bán không phải làm lại toàn bộ từ đầu, mà chỉ cần múc thêm, gói thêm. Chi phí để làm ra thêm một đơn vị lúc đó giảm đi rất nhiều. Khi vượt qua điểm hòa vốn, mỗi hộp bán thêm bắt đầu đóng góp rõ hơn vào lợi nhuận.

Điều này không chỉ đúng với bán xôi. Người làm nội dung số, người bán hàng online hay startup phần mềm đều đi theo quy luật tương tự. Sản phẩm đầu tiên luôn tốn thời gian và chi phí nhất. Nhưng khi đã có mẫu, có công cụ, có kinh nghiệm, có quy trình, chi phí trên mỗi sản phẩm tiếp theo sẽ giảm. Nói cách khác, muốn tăng lợi nhuận, một mô hình phải chấp nhận đầu tư ban đầu rồi từng bước ép chi phí biên xuống mức thấp hơn.

Trong hoạt động kinh doanh nhỏ, chi phí cũng chia thành hai nhóm rõ rệt. Thứ nhất là chi phí cố định (fixed cost), gồm những khoản gần như phải trả đều, bất kể bán được nhiều hay ít, như nồi bếp, dụng cụ, bếp gas, vật tư cơ bản hoặc phần nguyên liệu chuẩn bị sẵn. Thứ hai là chi phí biến đổi (variable cost), thay đổi theo ngày bán, lượng khách, thời tiết và rủi ro. Trời mưa, ít người mua, hàng dễ ế thì người bán phải giảm lượng nấu để tránh lỗ. Cách ứng biến như vậy chính là một dạng quản trị chi phí linh hoạt.

Quan trọng hơn lợi nhuận là dòng tiền. Nhiều mô hình kinh doanh có lãi trên sổ sách nhưng vẫn cạn tiền vì không quay vòng vốn kịp. Bà bán xôi thì ngược lại. Bán buổi sáng, thu tiền ngay, chiều đi chợ mua nguyên liệu, sáng hôm sau nấu tiếp rồi lại bán. Chu trình đó chính là vốn luân chuyển (working capital) ở dạng rất trực quan. Với kinh doanh nhỏ, dòng tiền là dưỡng khí. Không có dòng tiền đều, mô hình rất dễ đứt gãy dù biên lợi nhuận có vẻ hấp dẫn.

Một điểm đáng học nữa là chiến lược định vị tập trung (focused strategy). Bà bán xôi không ôm đồm quá nhiều món, chỉ giữ vài lựa chọn quen thuộc như xôi đậu xanh, hành phi, thịt kho. Nhưng đổi lại, hộp nào cũng chắc tay, nóng, thơm và ổn định. Đó là cách một mô hình nhỏ chọn lợi thế cạnh tranh bằng chất lượng cộng với giá cả, thay vì chạy theo sự đa dạng. Với kinh doanh nhỏ, làm một thứ thật tốt và chiếm vị trí rõ ràng trong tâm trí khách hàng thường hiệu quả hơn việc làm quá nhiều thứ dàn trải.

Từ định vị đó sẽ dẫn tới một chiến lược bền hơn: giữ chân khách hàng. Không cần đổ nhiều tiền cho quảng cáo, hàng xôi vỉa hè vẫn có khách đứng đợi từ sớm vì họ bán sự quen thuộc, ổn định và tin cậy. Đây là mô hình dựa vào giữ chân khách hàng và giá trị lâu dài mà mỗi khách hàng mang lại. Một khách quen quay lại nhiều lần mỗi tháng có giá trị lớn hơn rất nhiều so với một khách mới chỉ mua một lần. Bài học này càng đáng chú ý trong bối cảnh nhiều người kinh doanh hiện nay mải chạy theo khách mới mà quên mất “mỏ vàng” thật sự là khách cũ.

“Tuy nhiên, câu chuyện của bà bán xôi cũng cho thấy một giới hạn rõ ràng. Mô hình này có thể sống tốt, nhưng chưa chắc mở rộng quy mô được. Mọi bí quyết đều nằm trong tay nghề, thói quen và kinh nghiệm của một người. Khi đông khách thì làm nhanh, khi mệt thì nghỉ, khi cần điều chỉnh thì làm theo cảm giác. Không có quy trình vận hành chuẩn, không có phân quyền, không có hệ thống hóa quy trình. Điều đó ổn nếu mục tiêu chỉ là sống ổn định với một điểm bán. Nhưng nếu muốn mở điểm thứ hai, thứ ba thì chính sự phụ thuộc vào cá nhân sẽ trở thành rào cản lớn nhất.”

Trong kinh doanh, đây là khác biệt giữa người làm nghề giỏi và một mô hình có thể nhân rộng. Muốn đi xa, người chủ phải biến kinh nghiệm cá nhân thành tài sản vô hình của hệ thống, gồm công thức, quy trình, trải nghiệm khách hàng, cách đào tạo và tiêu chuẩn phục vụ. Những thương hiệu lớn không hẳn luôn ngon nhất, nhưng họ mạnh ở chỗ biến được kỹ năng thành chuẩn chung để nhiều người cùng vận hành mà chất lượng vẫn đồng đều.

Vì vậy, điều đáng học từ bà bán xôi không nằm ở chuyện sao chép y nguyên mô hình vỉa hè, mà ở cách nhìn ra logic kinh tế ẩn phía sau một hoạt động tưởng như rất bình dân. Một mô hình nhỏ vẫn có thể vận hành tốt nếu biết kiểm soát chi phí, xoay dòng tiền, định vị rõ sản phẩm, giữ khách bằng chất lượng. Nhưng muốn đi từ ổn định sang mở rộng, từ sống khỏe sang tăng trưởng, thì bản năng thôi chưa đủ, mà phải có hệ thống.

Sau cùng, cảm hứng lớn nhất từ gánh xôi không phải là sự lãng mạn hóa lao động vỉa hè, mà là lời nhắc rất thực tế: thị trường không phân biệt bạn có bằng cấp kinh doanh hay không. Ai tồn tại được trong cạnh tranh, người đó đang thực hành kinh tế theo cách của mình. Và đôi khi, một nồi xôi buổi sáng lại chứa nhiều bài học quản trị hơn cả những khái niệm khô khan trên giấy.

Bài liên quan
Tin bài khác
TS. Trần Đức Diễn: Bộ tiêu chuẩn V-REP là kim chỉ nam nâng tầm nghề môi giới

TS. Trần Đức Diễn: Bộ tiêu chuẩn V-REP là kim chỉ nam nâng tầm nghề môi giới

Tại hội thảo góp ý dự thảo V-REP, TS. Trần Đức Diễn nhấn mạnh việc xây dựng bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp là bước đi nền tảng để chuẩn hóa, nâng tầm và lấy lại niềm tin cho nghề môi giới.
Chủ tịch Abraham Nguyễn Quang Huy: Muốn có thương hiệu quốc gia mạnh phải kiến tạo một thế hệ “doanh nhân dân tộc”

Chủ tịch Abraham Nguyễn Quang Huy: Muốn có thương hiệu quốc gia mạnh phải kiến tạo một thế hệ “doanh nhân dân tộc”

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập sâu và cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt, bài toán xây dựng thương hiệu quốc gia không còn là câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp.
PGS.TS Vũ Sỹ Cường: Gỡ nút thắt vốn khoa học công nghệ để tạo động lực tăng trưởng

PGS.TS Vũ Sỹ Cường: Gỡ nút thắt vốn khoa học công nghệ để tạo động lực tăng trưởng

PGS.TS Vũ Sỹ Cường cho biết khoa học công nghệ vẫn “đói vốn”, đòi hỏi những cải cách mạnh mẽ về cơ chế, tư duy quản lý và cách thức huy động nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp và thị trường.
PGS.TS Trần Đình Thiên: Thể chế phải đi trước để mở đường tăng trưởng mới

PGS.TS Trần Đình Thiên: Thể chế phải đi trước để mở đường tăng trưởng mới

Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, Việt Nam cần thay đổi mô hình phát triển, trong đó thể chế phải đi trước mở đường để nuôi dưỡng động lực tăng trưởng mới bền vững.
Vì sao vùng Vịnh ngày càng quan trọng với thương mại toàn cầu?

Vì sao vùng Vịnh ngày càng quan trọng với thương mại toàn cầu?

Theo Giáo sư Marc L. Busch (Trường Ngoại giao Edmund A Walsh thuộc Đại học Georgetown), trong một thế giới mà thương mại không còn vận hành thuần túy theo logic hiệu quả chi phí, vùng Vịnh đang nổi lên như một điểm tựa chiến lược mới của chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ eo biển Hormuz đến hạ tầng AI, khu vực này ngày càng giữ vai trò then chốt trong dòng chảy năng lượng, vốn, dữ liệu và thương mại quốc tế.
Doanh nghiệp tiếp tục phản biện quy trình đo khí thải xe diesel

Doanh nghiệp tiếp tục phản biện quy trình đo khí thải xe diesel

Tranh luận quanh quy trình kiểm định khí thải với xe diesel vẫn chưa hạ nhiệt khi phía quản lý giữ nguyên phương pháp thử, còn doanh nghiệp và nhiều chủ xe tiếp tục bày tỏ lo ngại về tác động với động cơ, nhất là nhóm xe đã khai thác nhiều năm. Điều họ muốn không phải nới chuẩn khí thải, mà là một quy trình đủ chặt chẽ nhưng cũng phải thuyết phục, minh bạch và tạo được đồng thuận trong thực tế.
CEO Lê Quốc Vinh: Tại sao Tổng thống Trump bất ngờ “phanh gấp”?

CEO Lê Quốc Vinh: Tại sao Tổng thống Trump bất ngờ “phanh gấp”?

Một phát ngôn cứng rắn về khả năng tấn công hạ tầng điện dân sinh, rồi ngay lập tức “phanh lại” bằng tín hiệu đàm phán, đã khiến giới quan sát quốc tế bối rối trước động thái mới của Tổng thống Donald Trump. Nhưng theo Nhà báo Lê Quốc Vinh, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc của Le Group of Companies, đằng sau sự mâu thuẫn tưởng chừng phi lý ấy lại là một logic rất nhất quán: cả Mỹ và Iran đang tìm cách… xuống thang mà không mất thể diện, trong khi thế giới thì đứng sát một “ngưỡng không thể quay đầu”. Cùng Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập làm rõ quan điểm, góc nhìn của chuyên gia, CEO Lê Quốc Vinh.
TS. Nguyễn Minh Phong: Tái cấu trúc nguồn vốn để đạt tăng trưởng hai con số bền vững

TS. Nguyễn Minh Phong: Tái cấu trúc nguồn vốn để đạt tăng trưởng hai con số bền vững

Trước mục tiêu tăng trưởng hai con số, đặt ra yêu cầu cấp thiết về tái cấu trúc nguồn vốn. TS. Nguyễn Minh Phong nhấn mạnh, không chỉ cần nhiều vốn hơn mà còn phải phân bổ hiệu quả, minh bạch và bền vững.
Doanh nghiệp cần chủ động ứng phó rủi ro khi hãng tàu dừng hành trình

Doanh nghiệp cần chủ động ứng phó rủi ro khi hãng tàu dừng hành trình

Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam khuyến nghị doanh nghiệp tăng cường quản trị rủi ro trong bối cảnh địa chính trị phức tạp, đặc biệt với tình huống hãng tàu chấm dứt hành trình gây gián đoạn chuỗi cung ứng.
PGS. TS Nguyễn Thường Lạng: Phối hợp tài khóa - tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030

PGS. TS Nguyễn Thường Lạng: Phối hợp tài khóa - tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030

Theo PGS. TS Nguyễn Thường Lạng mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, đòi hỏi phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm huy động, phân bổ hiệu quả nguồn lực.
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế mở khóa dòng vốn tăng trưởng mới

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế mở khóa dòng vốn tăng trưởng mới

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân nhấn mạnh vai trò trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM trong thu hút vốn toàn cầu, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số bền vững.
TS. Nguyễn Quốc Việt: Chuyển dịch cấu trúc vốn, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng bền vững

TS. Nguyễn Quốc Việt: Chuyển dịch cấu trúc vốn, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng bền vững

TS. Nguyễn Quốc Việt nhấn mạnh yêu cầu tái cấu trúc nguồn vốn, phát triển thị trường vốn và xây dựng hệ sinh thái tài chính hiện đại nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng hiện nay.
Doanh nghiệp Việt đang bỏ quên “mỏ vàng” giá trị nhất của mình?

Doanh nghiệp Việt đang bỏ quên “mỏ vàng” giá trị nhất của mình?

Trong kỷ nguyên kinh tế số, giá trị doanh nghiệp không còn chủ yếu nằm ở nhà xưởng hay máy móc. Ngày càng nhiều nghiên cứu cho thấy phần lớn giá trị doanh nghiệp đến từ các tài sản vô hình như tri thức, dữ liệu, thương hiệu và sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa nhận diện đầy đủ những nguồn lực này.
Chuyên gia Nguyễn Bá Hùng: Thị trường tài chính cần hệ sinh thái liên thông, minh bạch

Chuyên gia Nguyễn Bá Hùng: Thị trường tài chính cần hệ sinh thái liên thông, minh bạch

Chuyên gia kinh tế trưởng ADB Nguyễn Bá Hùng nhấn mạnh thị trường tài chính Việt Nam chỉ phát triển hiệu quả khi các cấu phần được liên thông, minh bạch thông tin và cân bằng giữa lợi suất với rủi ro.
Đừng phó mặc túi tiền cho AI: Cảnh báo rủi ro từ trợ lý tài chính ảo!

Đừng phó mặc túi tiền cho AI: Cảnh báo rủi ro từ trợ lý tài chính ảo!

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo đang mở ra xu hướng ứng dụng trợ lý tài chính AI trong quản lý tài sản. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về phân tích dữ liệu và kỷ luật đầu tư, công nghệ này cũng đặt ra nhiều rủi ro cần kiểm soát.