Từ đầu năm đến hết tháng 7/2026, tỉnh Bắc Ninh đã cấp phép 19 mỏ đất san lấp với tổng diện tích 404 ha, trữ lượng 138,4 triệu m³ và công suất dự kiến 47,9 triệu m³ mỗi năm.
Xét về quy mô, đây là nguồn tài nguyên đáng kể, có khả năng phục vụ các dự án quan trọng như Cảng hàng không quốc tế Gia Bình, đường Vành đai 4 – Vùng Thủ đô, đường tỉnh 293 cùng nhiều công trình đầu tư công và hạ tầng đô thị.
Tuy nhiên, mới có 4/19 mỏ đi vào hoạt động. 15 mỏ còn lại đang thực hiện các thủ tục liên quan. Điều này cho thấy vấn đề lớn nhất hiện nay không hẳn nằm ở trữ lượng, mà ở khả năng chuyển nguồn tài nguyên đã được cấp phép thành nguồn cung hợp pháp, ổn định và có thể sử dụng trên công trường.
Nếu chỉ nhìn vào công suất 47,9 triệu m³ mỗi năm, có thể cho rằng nhu cầu đất san lấp của Bắc Ninh đã có nguồn đáp ứng tương đối lớn. Nhưng công suất ghi trong giấy phép mới thể hiện giới hạn khai thác được cơ quan quản lý cho phép, không phải sản lượng thực tế có thể cung ứng.
Để một mỏ đi vào hoạt động, doanh nghiệp còn phải hoàn thành các thủ tục về đất đai, giải phóng mặt bằng, môi trường, thiết kế khai thác, xây dựng đường vận chuyển và tổ chức hệ thống kiểm soát phương tiện.
Tỷ lệ mỏ đang hoạt động chỉ khoảng 21% cho thấy chuỗi thủ tục từ cấp phép đến khai thác vẫn còn một khoảng cách đáng kể. Nếu khoảng cách này không được rút ngắn, các công trình có thể đối diện với tình trạng thiếu vật liệu cục bộ dù tổng trữ lượng được cấp phép rất lớn.
Sự thiếu hụt nguồn cung hợp pháp còn có thể làm tăng giá vật liệu, kéo dài cự ly vận chuyển và tạo thêm áp lực lên tiến độ dự án. Nguy hiểm hơn, khi nhu cầu tăng cao nhưng nguồn cung chính thức chưa đáp ứng kịp, nguy cơ khai thác, mua bán và vận chuyển khoáng sản không rõ nguồn gốc cũng có thể xuất hiện.
Bởi vậy, hiệu quả quản lý không nên chỉ được nhìn qua số lượng giấy phép đã cấp. Chỉ tiêu quan trọng hơn là số mỏ hoàn thành thủ tục, sản lượng hợp pháp được đưa ra thị trường và khả năng cung cấp vật liệu đúng thời điểm cho từng dự án.
![]() |
| Kiểm soát phương tiện và vệ sinh môi trường tại khu vực khai thác đất san lấp. (Ảnh minh họa do AI tạo) |
Hoạt động khai thác đất san lấp tạo ra tác động tại hai không gian: khu vực mỏ và tuyến đường vận chuyển. Tại mỏ, những rủi ro chính liên quan đến khai thác vượt ranh giới, sai độ sâu, vượt công suất, mất an toàn sườn tầng, bụi, tiếng ồn và việc phục hồi môi trường sau khai thác. Trên tuyến vận chuyển, tác động dễ nhận thấy là đất rơi vãi, bụi, bùn, nước đọng, xe quá tải và nguy cơ mất an toàn giao thông.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, xã Nghĩa Phương có 10 khu vực được cấp phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường cho 9 doanh nghiệp. Tổng diện tích hơn 131 ha, trữ lượng khoảng 44 triệu m³ và công suất trên 9,1 triệu m³ mỗi năm. Trong đó, 5 mỏ đang hoạt động, 3 mỏ thực hiện giải phóng mặt bằng và 2 dự án đã hết thời hạn khai thác.
Mật độ điểm mỏ lớn đồng nghĩa với số lượt phương tiện vận chuyển tăng, đặc biệt trên những tuyến đường đi qua khu dân cư, chợ và khu vực sản xuất của người dân.
Tại mỏ của Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng 68 Trường Sinh, doanh nghiệp đã lắp đặt trạm cân điện tử, bố trí hai xe vệ sinh chuyên dụng, 5 công nhân xử lý môi trường và sử dụng khoảng 60–70 m³ nước mỗi ngày để chống bụi. Công ty trách nhiệm hữu hạn Khoáng sản Trung Bắc tại phường Vân Hà cũng đầu tư máng rửa xe, xe tưới nước và hệ thống tưới tự động trong khu vực mỏ.
Những khoản đầu tư này không nên được xem là chi phí phát sinh hay hoạt động mang tính hỗ trợ. Đó là một phần trong chi phí bắt buộc để khai thác tài nguyên.
Nếu doanh nghiệp tiết giảm chi phí vệ sinh phương tiện, che chắn, tưới đường và xử lý nước thải, phần chi phí bị cắt giảm sẽ không biến mất. Nó chỉ được chuyển sang người dân dưới dạng bụi, bùn đất, hư hỏng đường sá, nguy cơ tai nạn và suy giảm chất lượng sống.
Ba tầng trách nhiệm trong quản lý mỏ. Quản lý hoạt động khai thác khoáng sản cần sự vận hành đồng thời của ba tầng trách nhiệm.
Tầng thứ nhất thuộc về doanh nghiệp. Đơn vị khai thác phải tuân thủ tọa độ, diện tích, độ sâu, trữ lượng, công suất và thiết kế được phê duyệt; kiểm soát tải trọng, vệ sinh phương tiện, hạn chế bụi và thực hiện cải tạo, phục hồi môi trường.
Tầng thứ hai là chính quyền cơ sở. Xã, phường là nơi gần khu vực mỏ và cộng đồng dân cư nhất, có điều kiện phát hiện sớm những biểu hiện bất thường. Mô hình tổ công tác phản ứng nhanh tại xã Tam Tiến hay việc Công an xã Bố Hạ xử lý phương tiện làm rơi đất trên tỉnh lộ 292 cho thấy vai trò của giám sát tại chỗ.
Tầng thứ ba thuộc về các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh. Sở Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm kiểm tra hoạt động khai thác, xử lý hoặc tham mưu xử lý các trường hợp gây ô nhiễm, khai thác vượt ranh giới, không đúng thiết kế và vi phạm quy định về đất đai, khoáng sản.
Ngày 8/6/2026, UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành Chỉ thị số 10/CT-UBND, nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu và yêu cầu xử lý nghiêm các hành vi khai thác trái phép, sai phép, gây thất thoát tài nguyên và ảnh hưởng đến môi trường.
Ba tầng quản lý chỉ phát huy hiệu quả khi thông tin được kết nối. Dữ liệu từ trạm cân, camera, giấy phép, phản ánh của người dân và kết quả kiểm tra cần được đối chiếu để phát hiện chênh lệch giữa sản lượng khai báo và hoạt động thực tế.
Đất san lấp được khai thác nhằm phục vụ xây dựng hạ tầng, nhưng bản thân hoạt động khai thác cũng sử dụng một nguồn tài nguyên không thể tái tạo trong thời gian ngắn.
Vì vậy, hiệu quả không thể chỉ được đo bằng số mét khối đưa ra khỏi mỏ. Một hệ thống quản lý tốt còn phải được nhìn nhận qua số vụ vi phạm giảm xuống, mức độ tuân thủ của doanh nghiệp, tình trạng môi trường trên các tuyến vận chuyển, thời gian xử lý phản ánh và kết quả phục hồi khu vực sau khai thác.
Đối với 15 mỏ chưa hoạt động, yêu cầu đặt ra là hoàn thiện thủ tục với tiến độ phù hợp nhưng không bỏ qua những điều kiện pháp lý và môi trường cần thiết. Đối với các mỏ đang khai thác, trọng tâm là duy trì việc tuân thủ liên tục, thay vì chỉ làm tốt khi có đoàn kiểm tra.
Nguồn đất san lấp 138,4 triệu m³ có thể góp phần giải quyết nhu cầu vật liệu cho các dự án lớn của Bắc Ninh. Nhưng giá trị thực sự của nguồn tài nguyên này chỉ được khẳng định khi vật liệu đến công trường đúng tiến độ, ngân sách không bị thất thu và đời sống người dân quanh mỏ, dọc tuyến vận chuyển được bảo đảm. Đó là điểm cân bằng khó nhưng cũng là thước đo rõ nhất cho năng lực quản trị tài nguyên của một địa phương đang phát triển mạnh về hạ tầng, công nghiệp và đô thị.