Thứ hai 01/06/2026 07:45
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Xuất nhập khẩu năm 2019: Lợi gì từ kim ngạch 500 tỷ USD?

12/10/2020 00:00
Năm 2019, dự báo Việt Nam sẽ đạt kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa gần 500 tỷ USD. Con số này năm 2020 dự báo sẽ tăng rất mạnh nhờ những hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam ký bắt đầu có hiệu lực. Tuy nhiên, Việt Nam thu được gì từ xuất khẩu

Lời cảnh báo từ sức mạnh của FDI

Số liệu của Bộ Công Thương cho hay, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 11 tháng qua đã đạt 473,7 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 241,4 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, mặc dù còn 1 tháng nữa mới kết thúc năm 2019 song kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam dự báo sẽ đạt vượt con số 500 tỷ USD. Đây sẽ là thành tựu quan trọng của kinh tế Việt Nam trong năm. Các số liệu cũng cho thấy, với tổng kim ngạch đạt được theo dự báo, 2019 sẽ là năm thứ tư liên tiếp Việt Nam đạt xuất siêu với mức khá cao, hơn 9,1 tỷ USD.

Về cơ cấu, kim ngạch xuất khẩu của khu vực 100% vốn trong nước tăng trưởng khá mạnh với mức 18,1% nhưng so với kim ngạch tăng chỉ 3,8% so với cùng kỳ của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có thể thấy, sức mạnh của nền kinh tế đang phải dựa khá nhiều vào khối doanh nghiệp FDI. Khối này nắm trong tay tới 166,7 tỷ USD trị giá xuất khẩu. Khối FDI chỉ chi 134,1 tỷ USD để nhập khẩu hàng hóa và đạt mức xuất siêu 32,6 tỷ USD. Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước bị âm nặng về nhập siêu tới 23,5 tỷ USD.

Xét theo nhóm ngành hàng, dù đóng góp lớn cho nền kinh tế nhưng những vấn đề thực tại của nhóm ngành hàng nông, lâm, thủy sản đang có những dấu hiệu đáng lo về lâu dài. Những lời cảnh báo về việc doanh nghiệp không tận dụng được lợi thế xuất khẩu, tinh chế sản phẩm đang trở thành hiện thực khi kim ngạch của nhóm này sau 11 tháng đạt 23,13 tỷ USD, giảm 5,2% so với cùng kỳ năm ngoái.

Xuất nhập khẩu năm 2019: Lợi gì từ kim ngạch 500 tỷ USD? - Ảnh 1.

Quần áo xuất khẩu của Công ty May 10 Ảnh: như ý

Có tới 7/9 mặt hàng trong nhóm này có kim ngạch giảm so với cùng kỳ 2018. Trong đó, thủy sản giảm 2,3%, rau quả giảm 2,4%, cà phê giảm 22,2%, sắn và các sản phẩm từ sắn giảm 5,3%. Một số mặt hàng tăng về lượng nhưng giảm về kim ngạch do giá giảm như: Hạt điều, hạt tiêu, gạo.

Theo các chuyên gia kinh tế, với những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, xuất khẩu của doanh nghiệp FDI tiếp tục thống trị. Đây là dấu hiệu mà Việt Nam cần đối mặt trong thời gian tới. Thực tế cho thấy, các DN FDI đang có mặt ở hầu khắp các lĩnh vực xuất khẩu chủ lực của nước ta và gần như chiếm tỷ trọng tuyệt đối ở những ngành hàng công nghệ cao.

Trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, điện thoại và linh kiện (chiếm 99,7% kim ngạch); Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác. Riêng xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện cùng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giúp mang về gần 99 tỷ USD thì hầu hết trong số đó nằm trong tay các DN FDI.

Bên cạnh đó, trong 32 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, các DN FDI góp mặt ở hơn 20 mặt hàng. Các mặt hàng xuất khẩu mà DN FDI không hiện diện và khống chế thị phần chủ yếu liên quan lĩnh vực nông nghiệp như thủy sản, cà phê, hạt điều, gạo, rau quả…

Ngay trong lĩnh vực xuất khẩu giày dép, khối DN FDI trong ngành da giày cũng nắm hơn 70% tỷ trọng trong tổng kim ngạch chung 16,49 tỷ USD của toàn ngành. Với ngành dệt may, tình hình cũng không khả quan hơn, dù kim ngạch xuất khẩu đến nay đạt 29,8 tỷ USD, nhưng kim ngạch cũng chủ yếu rơi vào các DN FDI.

“Tăng trưởng kinh tế những năm gần đây cao nhưng chủ yếu nhờ xuất khẩu từ khối DN FDI, dù mừng, nhưng thực tế tiềm ẩn nhiều rủi ro”.

Xuất nhập khẩu năm 2019: Lợi gì từ kim ngạch 500 tỷ USD? - Ảnh 2.

TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế T.Ư

Xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc ngày càng lớn vào khối FDI cũng đã được cảnh báo nhiều lần. Thậm chí, đến nay, nguồn thu chính của nhiều địa phương chỉ trông cậy vào những doanh nghiệp FDI quy mô lớn như: Bắc Ninh trông cậy vào Nhà máy Samsung; Vĩnh Phúc, Hải Dương trông vào Toyota Việt Nam, Honda Việt Nam và Ford. Khi các DN này giảm lượng xuất khẩu, tiền thuế và các khoản thu của địa phương lập tức sụt giảm rất mạnh.

Tăng trưởng xuất khẩu nhờ các FTA

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, cùng với sự thống trị của DN FDI trong xuất khẩu, Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã mang lại nhiều lực đẩy cho xuất khẩu của Việt Nam. Thực tế trong các tháng qua, tất cả nhóm thị trường mà Việt Nam có ký kết FTA và đang thực thi đều ghi nhận tăng trưởng tốt. Đơn cử như xuất khẩu sang Nhật Bản 11 tháng tăng 7,6%; xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng 10,1%; xuất khẩu sang ASEAN tăng 2,5%; sang Nga tăng 9,1%; sang New Zealand tăng 6,8% so với cùng kỳ...

Với các ngành hàng, lợi thế từ tận dụng các FTA để xuất khẩu cũng thể hiện khá rõ. Theo lãnh đạo Hiệp hội da, giày, túi xách Việt Nam (Lefaso), việc ký kết một số hiệp định thư‌ơng mại tự do (EVFTA, CPTPP) đã và đang mở ra cơ hội ph‌át triển cho ngành Da giày Việt Nam. Cụ thể ngành Da giày đã thu hú‌t đầu tư cũng như thúc đẩ‌y xuất khẩu sang thị trường EU và các nước tham gia Hiệp định CPTPP tốt hơn. Xuất khẩu của ngành Da giày Việt Nam cũng đang tăng trưởng ổn định, có nhiều tín hiệu tốt trong tháng cuối năm 2019 và những năm tiếp theo với việc duy trì được lợi thế cạnh tra‌nh tại thị trường truyền thống như châu Âu; Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.

“Cơ hội mở rộng thị trường và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành tiếp tục có nhiều thuận lợi. Đa số doanh nghiệp da giày có lượng đơn hàng xuất khẩu tăng trung bình 5 - 10% so với cùng kỳ năm trước. Một trong những thuận lợi cho doanh nghiệp là giá nguyên vật liệu ổn định, không tăng so với cùng kỳ năm trước”, đại diện Lefaso cho hay.

Cũng theo vị này, tại thị trường Mỹ, việc dỡ bỏ những chính sách ưu đãi với giày dép xuất khẩu từ Trung Quốc, Ấn Độ đang tạo cơ hội cạnh tra‌nh thuận lợi hơn cho giày dép xuất khẩu của Việt Nam. Đặc biệt, Trung Quốc tiếp tục chủ trương giảm ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực da giày để tập trung cho ngành công nghệ cao nên đơn hàng gia công giày dép, túi xách sẽ tiếp tục xu hướng dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam. Mặt khá‌c, Hiệp định CPTPP có hiệu lực từ đầu năm 2019 đang giúp ngành da giày mở rộng thị trường khu vực châu Mỹ với cơ hội tiếp cận những thị trường tiềm năng như Mexico và Canada. Với những thuận lợi về thị trường, dự báo sả‌n xuất ngành da giày năm 2019 sẽ tăng trên 10% so với năm 2018.

Theo đánh giá của Bộ Công Thương, việc tận dụng, khai thác cam kết mở cửa thị trường từ các FTA cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua là khá tốt. Cơ cấu thị trường xuất khẩu có sự chuyển dịch sang các nước có FTA và có cơ cấu hàng hóa bổ sung với Việt Nam như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Liên minh Kinh tế Á - Âu. Tổng kim ngạch sử dụng các loại C/O ưu đãi theo FTA năm 2018 đạt 46,2 tỷ USD, chiếm 39% tổng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường Việt Nam ký FTA. Điều này cho thấy, doanh nghiệp và hàng hóa xuất khẩu Việt Nam đang dần nâng cao tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan tại các thị trường có FTA với Việt Nam.

“Một số thị trường mới trong CPTPP có mức tăng tốt ngay sau khi hiệp định có hiệu lực. Cụ thể, 6 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu sang Canada tăng 32,9%; Mexico tăng 23,4%”, Bộ Công Thương cho hay.

Sớm thúc đẩy khối DN trong nước

Tại hội nghị về giải pháp tổng thể thúc đẩy xuất khẩu diễn ra mới đây, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cũng cảnh báo về sự phụ thuộc của khối DN FDI trong xuất khẩu. Theo ông Trần Tuấn Anh, đến nay khối FDI đã chiếm hơn 70% xuất khẩu. Điều này tạo ra tính bất ổn đối với việc xuất khẩu do sản xuất và xuất hàng đi của khối FDI phụ thuộc rất mạnh vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Mỗi khi có biến động xảy ra với chuỗi cung ứng, thí dụ như chiến tranh thương mại, xuất khẩu của Việt Nam sẽ chịu tác động mạnh hơn.

Về sự lấn át của các DN FDI trong xuất khẩu, theo chuyên gia kinh tế Trần Hoàng Ngân, đây là những con số thể hiện sự phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào DN FDI. Về lâu dài, đây sẽ là vấn đề rất lớn và cần có giải pháp sớm hạn chế sự phụ thuộc vào DN FDI. Theo ông Ngân, giải pháp duy nhất là quan tâm và có thêm nhiều chính sách để hỗ trợ cho khối DN tư nhân, DN nhỏ và vừa phát triển.

TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế T.Ư cho rằng, tăng trưởng kinh tế những năm gần đây cao nhưng chủ yếu nhờ xuất khẩu từ khối DN FDI, dù mừng, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Xuất khẩu phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Mỹ, kéo theo nguy cơ Việt Nam dễ bị áp thuế hoặc đối mặt với các chính sách siết chặt hơn quy định về nguồn gốc hàng hóa.

Việc nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào khu vực doanh nghiệp FDI cũng là vấn đề rất lớn. Chỉ tính riêng năm 2018, Samsung xuất khẩu đạt 60 tỷ USD, tương đương 1/4 tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước nên suy cho cùng, chất lượng tăng trưởng không cao. “Khu vực FDI đang tăng lên nhanh chóng, khiến tỷ trọng khu vực kinh tế tư nhân và nhà nước giảm, trong khi sự chuyển dịch nguồn lực phát triển vẫn chủ yếu theo mệnh lệnh hành chính. Thực trạng này cho thấy, nền kinh tế kém năng động. Từ đó dẫn đến không có sản phẩm, ngành nghề và chính sách mới để thúc đẩy tăng trưởng, trong khi đây mới chính là những yếu tố then chốt quyết định đến sự phát triển nội lực của nền kinh tế”, ông Cung nói.

Để giải quyết vấn đề, Việt Nam phải xây dựng được những doanh nghiệp có vai trò dẫn dắt, có quy mô lớn, trở thành đối tác với doanh nghiệp FDI. Từ đó, xây dựng được chuỗi cung ứng, cụm liên kết, có sự chuyển giao. Để làm được, cần có những đòn bẩy mới trong cải cách môi trường kinh doanh đi kèm với việc Chính phủ thực hiện tái cơ cấu lại nền kinh tế.

Tính đến hết tháng 11/2019, đã có 32 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Trong đó, 8 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD và 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD. Những mặt hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu tiếp tục là điện thoại các loại và linh kiện (48,7 tỷ USD), hàng dệt và may mặc (29,8 tỷ USD), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (32,4 tỷ USD), máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (16,4 tỷ USD), giày dép các loại (16,4 tỷ USD).

Báo cáo đánh giá thực trạng hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và chính sách ưu đãi tài chính của Bộ Tài chính cho biết, đóng góp vào ngân sách nhà nước của doanh nghiệp FDI đang chậm lại, do doanh nghiệp khối này được hưởng nhiều ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp khi đầu tư lớn vào các ngành, lĩnh vực ưu đãi và đặc biệt ưu đãi đầu tư. Bên cạnh đó, khi đầu tư sang Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp FDI đều báo cáo lỗ trong nhiều năm, dù liên tiếp mở rộng đầu tư. FDI được kỳ vọng giúp giải quyết việc làm cho người lao động, nhưng lao động người Việt tại doanh nghiệp FDI năm cao nhất cũng chỉ chiếm 6%.

Theo Phạm Tuyên

Bài liên quan
Tin bài khác
Ông Phan Đức Trung: “Muốn thu hút dòng vốn quốc tế, trước hết phải có cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả”

Ông Phan Đức Trung: “Muốn thu hút dòng vốn quốc tế, trước hết phải có cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả”

“Trong lĩnh vực tài sản số thì doanh nghiệp Việt Nam có một lợi thế đáng kể về công nghệ. Chúng ta có đội ngũ kỹ sư giỏi, khả năng phát triển sản phẩm nhanh và chi phí cạnh tranh. Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất hiện nay lại nằm ở năng lực pháp chế và tuân thủ pháp luật. Có thể nói doanh nghiệp Việt đang khá yếu ở khía cạnh này.”- Ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam.
Đường sắt liên vận Việt Nam - Nga: Giải pháp tối ưu chi phí và bứt phá lợi nhuận

Đường sắt liên vận Việt Nam - Nga: Giải pháp tối ưu chi phí và bứt phá lợi nhuận

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng Á - Âu đang trải qua làn sóng tái cấu trúc mạnh mẽ, nhu cầu tìm kiếm các hành lang vận tải ổn định và ít biến động trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Với lợi thế rút ngắn thời gian so với đường hải hải truyền thống và tối ưu chi phí so với đường hàng không, vận tải đường sắt liên vận quốc tế đang nổi lên như một lựa chọn chiến lược, mở ra cánh cửa tối đa hóa lợi nhuận cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam sang thị trường Liên bang Nga.
Chủ tịch Quốc hội Singapore: Làn sóng doanh nghiệp sắp đổ bộ vào logistics Việt Nam

Chủ tịch Quốc hội Singapore: Làn sóng doanh nghiệp sắp đổ bộ vào logistics Việt Nam

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore, ngày 30/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có cuộc hội kiến quan trọng với Chủ tịch Quốc hội nước bạn, ông Seah Kian Peng. Cuộc gặp mở ra những tín hiệu chuyển dịch dòng vốn cực mạnh từ các tập đoàn đảo quốc sư tử vào thị trường Việt Nam.
Việt Nam - Lào tăng tốc kết nối hạ tầng giao thông chiến lược toàn diện

Việt Nam - Lào tăng tốc kết nối hạ tầng giao thông chiến lược toàn diện

Việt Nam - Lào thúc đẩy hợp tác hạ tầng giao thông chiến lược, hướng tới phát triển đồng bộ, hiện đại, nâng cao kết nối liên vùng, thúc đẩy thương mại và củng cố quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai quốc gia.
Dòng vốn hơn 128.000 tỷ đồng cùng 110 dự án đầu tư liên tiếp đổ vào Gia Lai trong tháng 5

Dòng vốn hơn 128.000 tỷ đồng cùng 110 dự án đầu tư liên tiếp đổ vào Gia Lai trong tháng 5

Từ đầu năm 2026 đến nay, Gia Lai thu hút 110 dự án mới, đạt gần 65% kế hoạch năm, cho thấy sức hút đầu tư ngày càng tăng của địa phương.
Từ CBAM đến ESG: Doanh nghiệp Hải Phòng chuẩn bị gì cho cuộc chơi mới?

Từ CBAM đến ESG: Doanh nghiệp Hải Phòng chuẩn bị gì cho cuộc chơi mới?

Ngày 29/5/2026, tại Hội trường Trung tâm TP Hải Phòng đã diễn ra tọa đàm “Ứng phó CBAM và tiêu chuẩn REACH – ZDHC: Doanh nghiệp chuyển đổi xanh để nâng cao năng lực cạnh tranh”, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội doanh nghiệp, chuyên gia năng lượng – môi trường, các khu công nghiệp và đông đảo doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu trên địa bàn thành phố.
Việt Nam - Lào tăng hợp tác phát triển giao thông thông minh và quản lý đường bộ số

Việt Nam - Lào tăng hợp tác phát triển giao thông thông minh và quản lý đường bộ số

Việt Nam - Lào tăng cường chia sẻ kinh nghiệm về ứng dụng công nghệ trong quản lý, bảo trì hạ tầng giao thông đường bộ, phát triển hệ thống giao thông thông minh và thu phí điện tử nhằm nâng cao hiệu quả vận hành, bảo đảm an toàn giao thông.
Quản lý thuế thương mại điện tử theo dòng tiền nhằm hạn chế thất thu hiệu quả

Quản lý thuế thương mại điện tử theo dòng tiền nhằm hạn chế thất thu hiệu quả

Quản lý thuế thương mại điện tử đang chuyển hướng theo dòng tiền, khi giao dịch số bùng nổ buộc cơ quan chức năng đổi cách tiếp cận, tăng minh bạch nhưng vẫn phải giảm áp lực tuân thủ.
Xây dựng “lá chắn pháp lý” cho Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam

Xây dựng “lá chắn pháp lý” cho Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam

“Trong bối cảnh các mô hình tài chính và công nghệ liên tục đổi mới, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý và hạ tầng giải quyết tranh chấp theo hướng linh hoạt, hiện đại và tiệm cận thông lệ quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường tài chính trong tương lai.- GS.TS. Lê Hồng Hạnh – Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) nhận định.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Phát triển đường sắt phải làm chủ công nghệ chiến lược

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Phát triển đường sắt phải làm chủ công nghệ chiến lược

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh yêu cầu các đơn vị nghiên cứu công nghệ đường sắt phải xác định rõ lộ trình, sản phẩm cụ thể, tăng năng lực tự chủ và hình thành hệ sinh thái công nghiệp nội địa phục vụ các dự án lớn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thúc đẩy đột phá hợp tác kinh tế với Thái Lan

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thúc đẩy đột phá hợp tác kinh tế với Thái Lan

Tại cuộc hội đàm ở Bangkok, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul nhất trí thúc đẩy các đột phá mới trong hợp tác kinh tế, công nghệ, logistics và kết nối chuỗi cung ứng, hướng tới nâng kim ngạch thương mại song phương lên 25 tỷ USD theo hướng cân bằng, bền vững.
Bộ Xây Dựng đơn giản hóa thủ tục quản lý vật liệu xây dựng

Bộ Xây Dựng đơn giản hóa thủ tục quản lý vật liệu xây dựng

Theo Quyết định số 788/QĐ-BXD ngày 25/5/2026 của Bộ Xây dựng, thủ tục hành chính bị bãi bỏ là thủ tục “Công bố hợp quy sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng”.
Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc: Doanh nghiệp công nghệ Việt phải dấn thân vào công nghệ lõi

Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc: Doanh nghiệp công nghệ Việt phải dấn thân vào công nghệ lõi

Theo Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc, để tạo đột phá trong phát triển kinh tế số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, các tập đoàn công nghệ lớn của Việt Nam cần mạnh dạn bước vào những lĩnh vực công nghệ chiến lược như AI, bán dẫn, 5G, 6G thay vì chỉ dừng ở gia công phần mềm và ứng dụng công nghệ sẵn có.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Việt Nam bứt phá thành trung tâm công nghệ toàn cầu

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Việt Nam bứt phá thành trung tâm công nghệ toàn cầu

Theo Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng, Việt Nam đang hội tụ đầy đủ điều kiện để thu hút dòng vốn công nghệ chiến lược, từng bước trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và tài chính quan trọng trong khu vực.
Việt Nam thúc đẩy cơ chế huy động vốn cho AI, bán dẫn và công nghệ số

Việt Nam thúc đẩy cơ chế huy động vốn cho AI, bán dẫn và công nghệ số

Tại Diễn đàn Đầu tư đổi mới sáng tạo Việt Nam 2026, nhiều chuyên gia, quỹ đầu tư và cơ quan quản lý cho rằng Việt Nam cần sớm hoàn thiện cơ chế thu hút dòng vốn dài hạn, tạo động lực phát triển các ngành công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và công nghệ số.