Thứ hai 21/09/2026 22:28
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Xuất nhập khẩu năm 2019: Lợi gì từ kim ngạch 500 tỷ USD?

12/10/2020 00:00
Năm 2019, dự báo Việt Nam sẽ đạt kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa gần 500 tỷ USD. Con số này năm 2020 dự báo sẽ tăng rất mạnh nhờ những hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam ký bắt đầu có hiệu lực. Tuy nhiên, Việt Nam thu được gì từ xuất khẩu

Lời cảnh báo từ sức mạnh của FDI

Số liệu của Bộ Công Thương cho hay, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 11 tháng qua đã đạt 473,7 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 241,4 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, mặc dù còn 1 tháng nữa mới kết thúc năm 2019 song kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam dự báo sẽ đạt vượt con số 500 tỷ USD. Đây sẽ là thành tựu quan trọng của kinh tế Việt Nam trong năm. Các số liệu cũng cho thấy, với tổng kim ngạch đạt được theo dự báo, 2019 sẽ là năm thứ tư liên tiếp Việt Nam đạt xuất siêu với mức khá cao, hơn 9,1 tỷ USD.

Về cơ cấu, kim ngạch xuất khẩu của khu vực 100% vốn trong nước tăng trưởng khá mạnh với mức 18,1% nhưng so với kim ngạch tăng chỉ 3,8% so với cùng kỳ của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có thể thấy, sức mạnh của nền kinh tế đang phải dựa khá nhiều vào khối doanh nghiệp FDI. Khối này nắm trong tay tới 166,7 tỷ USD trị giá xuất khẩu. Khối FDI chỉ chi 134,1 tỷ USD để nhập khẩu hàng hóa và đạt mức xuất siêu 32,6 tỷ USD. Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước bị âm nặng về nhập siêu tới 23,5 tỷ USD.

Xét theo nhóm ngành hàng, dù đóng góp lớn cho nền kinh tế nhưng những vấn đề thực tại của nhóm ngành hàng nông, lâm, thủy sản đang có những dấu hiệu đáng lo về lâu dài. Những lời cảnh báo về việc doanh nghiệp không tận dụng được lợi thế xuất khẩu, tinh chế sản phẩm đang trở thành hiện thực khi kim ngạch của nhóm này sau 11 tháng đạt 23,13 tỷ USD, giảm 5,2% so với cùng kỳ năm ngoái.

Xuất nhập khẩu năm 2019: Lợi gì từ kim ngạch 500 tỷ USD? - Ảnh 1.

Quần áo xuất khẩu của Công ty May 10 Ảnh: như ý

Có tới 7/9 mặt hàng trong nhóm này có kim ngạch giảm so với cùng kỳ 2018. Trong đó, thủy sản giảm 2,3%, rau quả giảm 2,4%, cà phê giảm 22,2%, sắn và các sản phẩm từ sắn giảm 5,3%. Một số mặt hàng tăng về lượng nhưng giảm về kim ngạch do giá giảm như: Hạt điều, hạt tiêu, gạo.

Theo các chuyên gia kinh tế, với những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, xuất khẩu của doanh nghiệp FDI tiếp tục thống trị. Đây là dấu hiệu mà Việt Nam cần đối mặt trong thời gian tới. Thực tế cho thấy, các DN FDI đang có mặt ở hầu khắp các lĩnh vực xuất khẩu chủ lực của nước ta và gần như chiếm tỷ trọng tuyệt đối ở những ngành hàng công nghệ cao.

Trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, điện thoại và linh kiện (chiếm 99,7% kim ngạch); Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác. Riêng xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện cùng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giúp mang về gần 99 tỷ USD thì hầu hết trong số đó nằm trong tay các DN FDI.

Bên cạnh đó, trong 32 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, các DN FDI góp mặt ở hơn 20 mặt hàng. Các mặt hàng xuất khẩu mà DN FDI không hiện diện và khống chế thị phần chủ yếu liên quan lĩnh vực nông nghiệp như thủy sản, cà phê, hạt điều, gạo, rau quả…

Ngay trong lĩnh vực xuất khẩu giày dép, khối DN FDI trong ngành da giày cũng nắm hơn 70% tỷ trọng trong tổng kim ngạch chung 16,49 tỷ USD của toàn ngành. Với ngành dệt may, tình hình cũng không khả quan hơn, dù kim ngạch xuất khẩu đến nay đạt 29,8 tỷ USD, nhưng kim ngạch cũng chủ yếu rơi vào các DN FDI.

“Tăng trưởng kinh tế những năm gần đây cao nhưng chủ yếu nhờ xuất khẩu từ khối DN FDI, dù mừng, nhưng thực tế tiềm ẩn nhiều rủi ro”.

Xuất nhập khẩu năm 2019: Lợi gì từ kim ngạch 500 tỷ USD? - Ảnh 2.

TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế T.Ư

Xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc ngày càng lớn vào khối FDI cũng đã được cảnh báo nhiều lần. Thậm chí, đến nay, nguồn thu chính của nhiều địa phương chỉ trông cậy vào những doanh nghiệp FDI quy mô lớn như: Bắc Ninh trông cậy vào Nhà máy Samsung; Vĩnh Phúc, Hải Dương trông vào Toyota Việt Nam, Honda Việt Nam và Ford. Khi các DN này giảm lượng xuất khẩu, tiền thuế và các khoản thu của địa phương lập tức sụt giảm rất mạnh.

Tăng trưởng xuất khẩu nhờ các FTA

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, cùng với sự thống trị của DN FDI trong xuất khẩu, Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã mang lại nhiều lực đẩy cho xuất khẩu của Việt Nam. Thực tế trong các tháng qua, tất cả nhóm thị trường mà Việt Nam có ký kết FTA và đang thực thi đều ghi nhận tăng trưởng tốt. Đơn cử như xuất khẩu sang Nhật Bản 11 tháng tăng 7,6%; xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng 10,1%; xuất khẩu sang ASEAN tăng 2,5%; sang Nga tăng 9,1%; sang New Zealand tăng 6,8% so với cùng kỳ...

Với các ngành hàng, lợi thế từ tận dụng các FTA để xuất khẩu cũng thể hiện khá rõ. Theo lãnh đạo Hiệp hội da, giày, túi xách Việt Nam (Lefaso), việc ký kết một số hiệp định thư‌ơng mại tự do (EVFTA, CPTPP) đã và đang mở ra cơ hội ph‌át triển cho ngành Da giày Việt Nam. Cụ thể ngành Da giày đã thu hú‌t đầu tư cũng như thúc đẩ‌y xuất khẩu sang thị trường EU và các nước tham gia Hiệp định CPTPP tốt hơn. Xuất khẩu của ngành Da giày Việt Nam cũng đang tăng trưởng ổn định, có nhiều tín hiệu tốt trong tháng cuối năm 2019 và những năm tiếp theo với việc duy trì được lợi thế cạnh tra‌nh tại thị trường truyền thống như châu Âu; Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.

“Cơ hội mở rộng thị trường và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành tiếp tục có nhiều thuận lợi. Đa số doanh nghiệp da giày có lượng đơn hàng xuất khẩu tăng trung bình 5 - 10% so với cùng kỳ năm trước. Một trong những thuận lợi cho doanh nghiệp là giá nguyên vật liệu ổn định, không tăng so với cùng kỳ năm trước”, đại diện Lefaso cho hay.

Cũng theo vị này, tại thị trường Mỹ, việc dỡ bỏ những chính sách ưu đãi với giày dép xuất khẩu từ Trung Quốc, Ấn Độ đang tạo cơ hội cạnh tra‌nh thuận lợi hơn cho giày dép xuất khẩu của Việt Nam. Đặc biệt, Trung Quốc tiếp tục chủ trương giảm ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực da giày để tập trung cho ngành công nghệ cao nên đơn hàng gia công giày dép, túi xách sẽ tiếp tục xu hướng dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam. Mặt khá‌c, Hiệp định CPTPP có hiệu lực từ đầu năm 2019 đang giúp ngành da giày mở rộng thị trường khu vực châu Mỹ với cơ hội tiếp cận những thị trường tiềm năng như Mexico và Canada. Với những thuận lợi về thị trường, dự báo sả‌n xuất ngành da giày năm 2019 sẽ tăng trên 10% so với năm 2018.

Theo đánh giá của Bộ Công Thương, việc tận dụng, khai thác cam kết mở cửa thị trường từ các FTA cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua là khá tốt. Cơ cấu thị trường xuất khẩu có sự chuyển dịch sang các nước có FTA và có cơ cấu hàng hóa bổ sung với Việt Nam như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Liên minh Kinh tế Á - Âu. Tổng kim ngạch sử dụng các loại C/O ưu đãi theo FTA năm 2018 đạt 46,2 tỷ USD, chiếm 39% tổng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường Việt Nam ký FTA. Điều này cho thấy, doanh nghiệp và hàng hóa xuất khẩu Việt Nam đang dần nâng cao tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan tại các thị trường có FTA với Việt Nam.

“Một số thị trường mới trong CPTPP có mức tăng tốt ngay sau khi hiệp định có hiệu lực. Cụ thể, 6 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu sang Canada tăng 32,9%; Mexico tăng 23,4%”, Bộ Công Thương cho hay.

Sớm thúc đẩy khối DN trong nước

Tại hội nghị về giải pháp tổng thể thúc đẩy xuất khẩu diễn ra mới đây, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cũng cảnh báo về sự phụ thuộc của khối DN FDI trong xuất khẩu. Theo ông Trần Tuấn Anh, đến nay khối FDI đã chiếm hơn 70% xuất khẩu. Điều này tạo ra tính bất ổn đối với việc xuất khẩu do sản xuất và xuất hàng đi của khối FDI phụ thuộc rất mạnh vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Mỗi khi có biến động xảy ra với chuỗi cung ứng, thí dụ như chiến tranh thương mại, xuất khẩu của Việt Nam sẽ chịu tác động mạnh hơn.

Về sự lấn át của các DN FDI trong xuất khẩu, theo chuyên gia kinh tế Trần Hoàng Ngân, đây là những con số thể hiện sự phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào DN FDI. Về lâu dài, đây sẽ là vấn đề rất lớn và cần có giải pháp sớm hạn chế sự phụ thuộc vào DN FDI. Theo ông Ngân, giải pháp duy nhất là quan tâm và có thêm nhiều chính sách để hỗ trợ cho khối DN tư nhân, DN nhỏ và vừa phát triển.

TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế T.Ư cho rằng, tăng trưởng kinh tế những năm gần đây cao nhưng chủ yếu nhờ xuất khẩu từ khối DN FDI, dù mừng, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Xuất khẩu phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Mỹ, kéo theo nguy cơ Việt Nam dễ bị áp thuế hoặc đối mặt với các chính sách siết chặt hơn quy định về nguồn gốc hàng hóa.

Việc nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào khu vực doanh nghiệp FDI cũng là vấn đề rất lớn. Chỉ tính riêng năm 2018, Samsung xuất khẩu đạt 60 tỷ USD, tương đương 1/4 tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước nên suy cho cùng, chất lượng tăng trưởng không cao. “Khu vực FDI đang tăng lên nhanh chóng, khiến tỷ trọng khu vực kinh tế tư nhân và nhà nước giảm, trong khi sự chuyển dịch nguồn lực phát triển vẫn chủ yếu theo mệnh lệnh hành chính. Thực trạng này cho thấy, nền kinh tế kém năng động. Từ đó dẫn đến không có sản phẩm, ngành nghề và chính sách mới để thúc đẩy tăng trưởng, trong khi đây mới chính là những yếu tố then chốt quyết định đến sự phát triển nội lực của nền kinh tế”, ông Cung nói.

Để giải quyết vấn đề, Việt Nam phải xây dựng được những doanh nghiệp có vai trò dẫn dắt, có quy mô lớn, trở thành đối tác với doanh nghiệp FDI. Từ đó, xây dựng được chuỗi cung ứng, cụm liên kết, có sự chuyển giao. Để làm được, cần có những đòn bẩy mới trong cải cách môi trường kinh doanh đi kèm với việc Chính phủ thực hiện tái cơ cấu lại nền kinh tế.

Tính đến hết tháng 11/2019, đã có 32 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Trong đó, 8 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD và 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD. Những mặt hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu tiếp tục là điện thoại các loại và linh kiện (48,7 tỷ USD), hàng dệt và may mặc (29,8 tỷ USD), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (32,4 tỷ USD), máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (16,4 tỷ USD), giày dép các loại (16,4 tỷ USD).

Báo cáo đánh giá thực trạng hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và chính sách ưu đãi tài chính của Bộ Tài chính cho biết, đóng góp vào ngân sách nhà nước của doanh nghiệp FDI đang chậm lại, do doanh nghiệp khối này được hưởng nhiều ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp khi đầu tư lớn vào các ngành, lĩnh vực ưu đãi và đặc biệt ưu đãi đầu tư. Bên cạnh đó, khi đầu tư sang Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp FDI đều báo cáo lỗ trong nhiều năm, dù liên tiếp mở rộng đầu tư. FDI được kỳ vọng giúp giải quyết việc làm cho người lao động, nhưng lao động người Việt tại doanh nghiệp FDI năm cao nhất cũng chỉ chiếm 6%.

Theo Phạm Tuyên

Bài liên quan
Tin bài khác
ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

Trước những bất ổn địa chính trị, thương mại và năng lượng ngày càng gia tăng, ASEAN - Nhật Bản đang mở rộng hợp tác nhằm củng cố khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, bảo đảm an ninh năng lượng và tăng sức chống chịu cho nền kinh tế khu vực.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Một trong những thay đổi đáng chú ý trong Đề án hiện đại hóa hệ thống ngân hàng đến năm 2030 là định hướng mở rộng cách đánh giá doanh nghiệp khi cấp tín dụng. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn vay có thể được xem xét dựa nhiều hơn vào phương án sản xuất kinh doanh, dòng tiền và dữ liệu thanh toán, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tài sản bảo đảm.
R3 Lithium đến Việt Nam và bài toán làm chủ chuỗi vật liệu pin

R3 Lithium đến Việt Nam và bài toán làm chủ chuỗi vật liệu pin

Cuộc gặp giữa Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng và lãnh đạo R3 Lithium mở ra câu chuyện lớn hơn về vật liệu pin và chuỗi cung ứng khoáng sản chiến lược. R3 Lithium cho biết doanh nghiệp quan tâm khả năng hợp tác với các đối tác Việt Nam trong chuyển đổi xanh, đặc biệt ở công nghệ pin, tái chế và xử lý khoáng sản thiết yếu.
TP.Hồ Chí Minh đặt yêu cầu phát huy cao hơn giá trị nguồn lực đất đai, tài chính

TP.Hồ Chí Minh đặt yêu cầu phát huy cao hơn giá trị nguồn lực đất đai, tài chính

Tại Kỳ họp thứ 5 (Kỳ họp chuyên đề)HĐND thành phố yêu cầu khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực tài chính, ngân sách và đất đai được đặt song song với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm mở rộng không gian và tạo động lực phát triển mới cho thành phố.
Quy mô kinh tế Việt Nam "tăng tốc", bài toán phía sau vị trí thứ hai Đông Nam Á

Quy mô kinh tế Việt Nam "tăng tốc", bài toán phía sau vị trí thứ hai Đông Nam Á

Việc Việt Nam được dự báo vượt mốc 2.000 tỷ USD GDP tính theo sức mua tương đương (PPP), vươn lên vị trí thứ hai Đông Nam Á và lọt nhóm 22 nền kinh tế lớn nhất thế giới cho thấy quy mô thị trường và sức nặng của nền kinh tế đang gia tăng. Tuy nhiên, phía sau cột mốc đáng chú ý ấy còn là bài toán về năng suất, thu nhập bình quân đầu người và chất lượng tăng trưởng.
Nền kinh tế cần nhiều kênh vốn hơn tín dụng ngân hàng

Nền kinh tế cần nhiều kênh vốn hơn tín dụng ngân hàng

Dư nợ tín dụng đã vượt 20 triệu tỷ đồng, nhưng nhu cầu vốn cho tăng trưởng còn lớn hơn nhiều. Khi các dự án hạ tầng, đô thị và sản xuất cần nguồn vốn trung, dài hạn, nền kinh tế phải mở thêm những kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng.
UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

Hội nghị Kết nối đối tác khu vực công UEH 2026 cho thấy một hướng tiếp cận mới trong quan hệ giữa đại học và khu vực công: không dừng ở hợp tác, chia sẻ tri thức mà tiến tới cùng xác định vấn đề, thiết kế giải pháp, triển khai và tạo ra những giá trị có khả năng ứng dụng trong thực tiễn.
Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành đang chuyển từ giai đoạn thi công sang hoàn thiện và kiểm tra đồng bộ để chuẩn bị vận hành thử từ cuối tháng 9/2026. Trong khi nhiều gói thầu đã đạt trên 90% giá trị hợp đồng, áp lực lớn nhất hiện nằm ở khả năng khớp nối nhà ga, khu bay, hạ tầng kỹ thuật và các hệ thống phục vụ khai thác.
Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Kim ngạch thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ tiếp tục tăng mạnh, đạt khoảng 137,42 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô trao đổi ngày càng lớn mở thêm dư địa hợp tác, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu hai nền kinh tế chuyển mạnh từ tăng trưởng thương mại sang hợp tác sâu hơn về công nghệ, đầu tư, năng lượng và chuỗi cung ứng.
Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày 18/9, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định 1809/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính chuẩn bị tổ chức chương trình tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế không kèm phát hành trái phiếu, nhằm cập nhật bức tranh kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, tiền tệ và quản lý nợ công. Hoạt động này cũng mở thêm kênh đối thoại với thị trường vốn toàn cầu trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và hướng tới mức xếp hạng tín nhiệm đầu tư.
Đề xuất cơ chế 2 bước công nhận khu kinh tế đặc biệt

Đề xuất cơ chế 2 bước công nhận khu kinh tế đặc biệt

Bộ Tài chính đề xuất việc công nhận khu kinh tế đặc biệt được thực hiện theo cơ chế đánh giá hai bước: địa bàn phải đáp ứng đầy đủ 4 điều kiện đầu vào, sau đó đạt từ 90/100 điểm theo 5 nhóm tiêu chí mới được xem xét công nhận.
Hải Phòng bàn giải pháp nâng sức chống chịu của sản xuất trong nước

Hải Phòng bàn giải pháp nâng sức chống chịu của sản xuất trong nước

Trước những biến động ngày càng lớn của thương mại toàn cầu, Diễn đàn Phòng vệ thương mại 2026 tại Hải Phòng đặt trọng tâm vào nâng năng lực sản xuất, cảnh báo sớm rủi ro và hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó hiệu quả.
Rà soát pháp luật để khơi thông nguồn lực cho kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Rà soát pháp luật để khơi thông nguồn lực cho kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Bộ Tài chính đang đẩy mạnh tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, đồng thời tiếp tục hoàn thiện các cơ chế phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.
Chủ tịch VINASME Nguyễn Văn Thân đề xuất mở thêm kênh vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chủ tịch VINASME Nguyễn Văn Thân đề xuất mở thêm kênh vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) Nguyễn Văn Thân đề xuất một loạt giải pháp nhằm mở rộng chủ thể cung ứng vốn, khai thác dòng tiền và các tài sản hình thành trong quá trình kinh doanh.