Thứ sáu 14/08/2026 20:55
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Việt Nam phải cải thiện cơ sở hạ tầng và có cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp SME

12/10/2020 00:00
Làm thế nào Việt Nam có thể tận dụng tốt nhất cơ hội, đón nhận được dòng vốn đầu tư chất lượng cao?.. Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB tại Việt Nam Nguyễn Minh Cường đã đưa ra góc nhìn của mình.

Làm thế nào Việt Nam có thể tận dụng tốt nhất cơ hội, đón nhận được dòng vốn đầu tư chất lượng cao? Làm thế nào để giải quyết được khó khăn căn bản về tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, để doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phát triển lớn mạnh, tận dụng cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước trong vận hội mới? Ông Nguyễn Minh Cường, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB tại Việt Nam đã đưa ra góc nhìn của mình trong cuộc trao đổi với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập:

Ông Nguyễn Minh Cường – Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển châu Á – ADB tại Việt Nam

Cần tránh trở thành bến đỗ “tạm thời”

ADB nhận định kinh tế Việt Nam sẽ phát triển ra sao về trung và dài hạn sau đại dịch COVID-19 và sau khi các Hiệp định EVFTA và EVIPA chính thức có hiệu lực, thưa ông?

Ông Nguyễn Minh Cường: Nhiều năm trở lại đây, Việt Nam trở thành một nền kinh tế mở phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài. Trong khi đó, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới, những đối tác xuất nhập khẩu của Việt Nam đã và đang bị ảnh hưởng trầm trọng, rơi vào suy thoái. Chính vì vậy, kinh tế Việt Nam sẽ không tránh khỏi những tác động mang tính tiêu cực. ADB cũng đã dự báo năm 2020, kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng 4,1%. Nếu đạt được thì đây cũng là mức tăng trưởng rất cao so với khu vực và thế giới.

Về trung hạn và dài hạn, ngay từ trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát, ADB đã dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển rất mạnh từ 6.8%-7%/năm, đến nay mức dự báo này vẫn được ADB giữ nguyên cho kịch bản Việt Nam và thế giới kiểm soát tốt dịch COVID-19. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam về trung và dài hạn sẽ dựa trên một số động lực chính. Thứ nhất là cùng với đà tăng trưởng của nền kinh tế, tầng lớp trung lưu tại Việt Nam tăng lên mạnh mẽ, chính điều này giúp đẩy mạnh tiêu dùng nội địa, đây là một trong những điểm sáng của kinh tế Việt Nam và sẽ tiếp tục là động lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới. Thứ hai, là sự tham gia đóng góp tích cực của kinh tế tư nhân vào tăng trưởng GDP, ngoài đóng góp của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

Logistics vẫn chiếm tỷ trọng quá cao trong tổng chi phí doanh nghiệp

Động lực thứ ba có lẽ là quan trọng nhất, đó chính là sự dịch chuyển đầu tư FDI, dưới tác động của chuyển đổi cơ cấu kinh tế toàn cầu – đặc biệt là dòng chảy thương mại và đầu tư – từ trước khi xảy ra chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch, và các yếu tố địa chính trị trong khu vực và trên thế giới. Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch đã thúc đẩy nhanh hơn và sâu sắc hơn tiến trình chuyển dịch cơ cấu này. Với kết quả đầy tích cực về phòng dịch COVID-19, với thị trường gần 100 triệu dân có mức thu nhập trung bình trên thế giới, với vị trí địa lý thuận lợi để tiếp cận thị trường đầy tiềm năng của Châu Á, với cơ hội tiếp cận các thị trường khác trên thế giới qua các hiệp định thương mại song phương, Việt Nam trở thành điểm sáng đáng để nhiều doanh nghiệp lớn trên thế giới phải cân nhắc lựa chọn đầu tư.

Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với nhiều nước khác để thu hút vốn đầu tư. Vậy theo ông, đâu sẽ là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam?

Ông Nguyễn Minh Cường: Việt Nam có một số lợi thế để cạnh tranh với những quốc gia khác khi thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, như lao động nhân công chi phí thấp, môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, nhiều hiệp định song phương, đa phương được ký kết với Châu Âu, Mỹ và nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới, tạo tiền đề cực kỳ thuận lợi cho sản xuất xuất khẩu, sự cam kết và nỗ lực của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh... Tuy nhiên, theo tôi lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam so với những quốc gia khác chính là sự ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, và một thị trường nội địa gần 100 triệu dân năng động và nhiều tiềm năng, đặc biệt là tính hiệu quả của hệ thống chính trị đã được thể hiện rất rõ trước và trong đại dịch COVID-19 vừa qua.

Hạ tầng yếu kém là “yếu điểm” của Việt Nam

Việt Nam mong muốn tập trung thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Theo ông, Việt Nam cần phải làm gì để thu hút được nhà đầu tư vào những dự án như vậy?

Ông Nguyễn Minh Cường: Những nhà đầu tư “chất lượng cao” trước khi đầu tư đều có nghiên cứu kỹ càng, cẩn thận. Họ đầu tư mang tính chất lâu dài, do vậy sẽ cân nhắc nhiều yếu tố chiến lược trước khi quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư được đưa ra xem xét. Ngoài Việt Nam cũng còn nhiều quốc gia khác muốn thu hút đầu tư từ những doanh nghiệp này. Bởi vậy, để thu hút được những dự án đầu tư chất lượng cao, môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn cần phải được cải thiện rất nhiều, đây cũng chính là một trong những yếu tố được các nhà đầu tư lớn trên thế giới tập trung quan tâm. Ngoài ra, những yếu tố khác như cơ sở hạ tầng, năng suất lao động, trình độ nguồn nhân lực, tính minh bạch trong kinh doanh, chính sách pháp luật… cũng là những yếu tố góp phần đáng kể vào quyết định lựa chọn đầu tư của những nhà đầu tư “chất lượng cao”. Nếu như Việt Nam không có sự cải thiện đáng kể những yếu tố trên, vấn đề cạnh tranh và thu hút đầu tư từ những nhà đầu tư “chất lượng cao” chỉ là giấc mơ xa vời. Thay vào đó, chúng ta chỉ có thể thu hút được những nhà đầu tư nhỏ lẻ, những nhà đầu tư dịch chuyển “tạm thời”, mang tính chất “tránh bão” trong thời điểm chiến tranh thương mại và đại dịch COVID-19 bùng phát.

Thị trường 100 triệu dân đầy tiềm năng của Việt Nam rất hấp dẫn nhà đầu tư ngoại

Ngoài ra, Việt Nam cũng cần quan tâm hơn đến dòng đầu tư mua bán sáp nhập công ty (M&A), đặc biệt là ở châu Á. Do thanh khoản dồi dào vì đầu tư sản xuất bị hạn chế, giá các tài sản (assets) trong khu vực và trên thế giới hiện đang đi xuống. Đặc biệt, để chiếm lĩnh mạng lưới phân phối nội địa sẵn có của các công ty đang trên bờ vực phá sản cũng như tận dụng cơ hội tiếp cận thị trường dưới danh nghĩa sản xuất nội địa, nhiều nhà đầu tư lựa chọn việc hình thức M&A. Trong thời điểm chính tranh thương mại leo thang diễn biến phức tạp, các dòng đầu tư mua cổ phần doanh nghiệp tăng đột biến. Hiện tượng này vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức rất lớn của Việt Nam trong quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài.

ADB sẽ hỗ trợ Việt Nam thế nào trong việc thu hút nhà đầu tư “chất lượng cao”, thưa ông?

Ông Nguyễn Minh Cường: Như đã nói, một trong những yếu tố được ADB xác định là điểm còn hạn chế của Việt Nam là cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh gây tăng chi phí logistic, như hiện tại theo tính toán, logistic chiếm tới gần 20% tổng chi phí của doanh nghiệp. Chi phí như vậy là quá cao so với tại các nước khác, gây áp lực lên giá thành sản phẩm, khiến nhà đầu tư băn khoăn cân nhắc trước khi đầu tư. Các dự án của ADB tập trung chủ yếu vào phát triển cơ sở hạ tầng và biến đổi khí hậu, chiếm tới 70%-80% tổng vốn đầu tư. Nhiều dự án phát triển cơ sở hạ tầng được ADB triển khai tại Việt Nam như dự án Metro Hà Nội và TP. HCM, dự án cao tốc Nội Bài - Lào Cai… Trong số đó, dự án cao tốc Nội Bài - Lào Cai đã giúp chuyển đổi hẳn khu vực Tây Bắc Việt Nam, tạo đà tăng trưởng kinh tế khu vực. Lào Cai trước đây còn tụt hậu nhiều so với Lạng Sơn, Quảng Ninh nhưng từ khi có đường cao tốc, kinh tế Lào Cai đã có sự phát triển vượt trội, đầu tư nước ngoài vào Lào Cai tăng lên đáng kể. Ngoài ra, còn rất nhiều dự án đã và đang được ADB triển khai phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ thu hút nhà đầu tư, đặc biệt là những nhà đầu tư chất lượng cao vào Việt Nam.

Việt Nam cần cải thiện rất nhiều nếu muốn thúc đẩy doanh nghiệp SMEs phát triển

Trong thời gian tới, ADB sẽ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Việt Nam như thế nào trong việc tiếp cận nguồn tài chính – lĩnh vực được coi là khó khăn nhất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam?

Ông Nguyễn Minh Cường: Theo phân tích của ADB, trước khi đại dịch COVID-19 xảy ra, hệ thống ngân hàng, cơ chế tín dụng của Việt Nam so với một số nước khác trong ASEAN được coi là có phần tốt hơn, tỉ lệ tiếp cận vốn của doanh nghiệp Việt Nam khả quan hơn. Tuy nhiên trong và sau khủng hoảng, cơ chế tiếp cận vốn của tổ chức tín dụng tại Việt Nam dành cho doanh nghiệp lại có phần hạn chế, khó khăn hơn so với nhiều nước khác. Trong khủng hoảng gây ra bởi đại dịch COVID-19, Chính phủ nhiều nước đưa ra cơ chế bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên tại Việt Nam, cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp bị tác động của đại dịch chưa phát huy hết hiệu quả.

Chân thành cảm ơn ông về cuộc trao đổi ngày hôm nay!

Tại Việt Nam hiện nay, ngoài ngân hàng thương mại, doanh nghiệp SMEs còn có thể tiếp cận vốn từ nhiều nguồn khác như Quỹ tín dụng nhân dân, Bộ Kế hoạch và đầu tư cùng Hiệp hội cũng có một quỹ dành riêng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên vấn đề vướng mắc ở đây là cơ chế cho vay của những tổ chức này không khác gì so với cơ chế của ngân hàng, không có cơ chế bảo lãnh tín dụng của Chính phủ như nhiều nước khác. Vì vậy theo tôi, đây là điểm nghẽn gây cản trở khả năng tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.

Trong thời gian tới, ADB sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng, tổ chức nghiên cứu khảo sát thực tế về khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa bị tác động bới COVID-19, sau đó sẽ có đề xuất cụ thể để tạo cơ chế bảo lãnh tín dụng linh hoạt hơn cho doanh nghiệp SMEs khi tiếp cận vốn.

Ngọc Thái (t/h)

Tin bài khác
Đấu thầu cần “thoáng” thủ tục nhưng chặt cơ chế kiểm soát

Đấu thầu cần “thoáng” thủ tục nhưng chặt cơ chế kiểm soát

Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi) đang được xây dựng theo hướng đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh đấu thầu qua mạng và tăng phân cấp. Tuy nhiên, các ý kiến thẩm định cho rằng việc tinh gọn phải đi cùng cơ chế giám sát đủ chặt để phòng ngừa vi phạm, bảo đảm cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả sử dụng nguồn vốn.
Đại biểu Quốc hội đề xuất cơ chế thu hồi phần đất còn lại khi đạt 75%

Đại biểu Quốc hội đề xuất cơ chế thu hồi phần đất còn lại khi đạt 75%

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Cao Sơn cho rằng sửa Luật Đất đai cần tạo cơ chế tiếp cận đất đai rõ ràng, có thể dự đoán cho nhà đầu tư; trong đó, khi dự án đạt thỏa thuận từ 75% diện tích và 75% số người sử dụng đất, cần có cơ chế xử lý phần diện tích còn lại để tránh kéo dài quá trình giải phóng mặt bằng.
Hoàn thiện khung pháp lý để công nghiệp văn hóa bứt phá

Hoàn thiện khung pháp lý để công nghiệp văn hóa bứt phá

Việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý đồng bộ, khơi thông nguồn lực sáng tạo, thúc đẩy thị trường và nâng cao giá trị kinh tế của các sản phẩm văn hóa Việt Nam.
Hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia: Dự kiến huy động hơn 808.000 tỷ đồng

Hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia: Dự kiến huy động hơn 808.000 tỷ đồng

Chính phủ đề xuất tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành một chương trình chung giai đoạn 2026-2030, với tổng nguồn lực dự kiến 808.558 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương khoảng 345.000 tỷ đồng.
TP. HCM sửa đổi thủ tục công bố dự án đầu tư kinh doanh

TP. HCM sửa đổi thủ tục công bố dự án đầu tư kinh doanh

Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh vừa ban hành quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Tài chính. Quyết định công bố 1 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực kể từ ngày ký.
Nhập siêu 20,3 tỷ USD đặt doanh nghiệp trước bài toán nội địa hóa

Nhập siêu 20,3 tỷ USD đặt doanh nghiệp trước bài toán nội địa hóa

Nhập khẩu tăng mạnh trong 7 tháng đầu năm đang tạo sức ép lên cán cân thương mại, nhưng phần lớn dòng hàng là máy móc, linh kiện và nguyên liệu phục vụ sản xuất. Bài toán đặt ra với doanh nghiệp là nâng tỷ lệ nội địa hóa để biến áp lực nhập khẩu thành năng lực sản xuất dài hạn.
Đến năm 2030, toàn bộ cao tốc Việt Nam sẽ vận hành trên nền tảng giao thông thông minh

Đến năm 2030, toàn bộ cao tốc Việt Nam sẽ vận hành trên nền tảng giao thông thông minh

Bộ Xây dựng đặt mục tiêu đến năm 2030 kết nối toàn bộ cao tốc đang khai thác vào ITS Core, tạo mạng lưới giao thông số thống nhất, điều hành bằng dữ liệu thời gian thực.
TP.HCM cấp thẻ đi xe buýt miễn phí, tiến tới đi xe buýt bằng căn cước hoặc  VNeID

TP.HCM cấp thẻ đi xe buýt miễn phí, tiến tới đi xe buýt bằng căn cước hoặc VNeID

TP.HCM đang đẩy mạnh số hóa hệ thống giao thông công cộng, đồng thời triển khai chính sách đi xe buýt miễn phí cho toàn bộ người dân đi lại trên 134 tuyến xe buýt nội tỉnh và miễn phí hoàn toàn cho các nhóm đối tượng theo quy định. Người dân có thể đăng ký thẻ miễn phí, sử dụng trên xe buýt và từng bước kết nối với metro, hướng tới việc đi lại thuận tiện hơn và giảm sử dụng phương tiện cá nhân.
VINASME và hành trình kiến tạo thể chế cho kinh tế tư nhân

VINASME và hành trình kiến tạo thể chế cho kinh tế tư nhân

Nếu ví kinh tế tư nhân là động cơ tăng trưởng mới của Việt Nam thì VINASME chính là một trong những tổ chức đang góp phần thiết kế và hoàn thiện "đường băng" để động cơ ấy cất cánh.
TP. Hồ Chí Minh dồn lực giải ngân đầu tư công, kích hoạt dòng vốn tư nhân

TP. Hồ Chí Minh dồn lực giải ngân đầu tư công, kích hoạt dòng vốn tư nhân

TP. Hồ Chí Minh đang đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, xác định đây không chỉ là nhiệm vụ về tiến độ ngân sách mà còn là giải pháp quan trọng để mở rộng không gian phát triển, tạo hạ tầng và mặt bằng, qua đó kích hoạt dòng vốn đầu tư tư nhân và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026.
Luật mới kỳ vọng mở thêm dư địa cho doanh nghiệp số và đổi mới công nghệ

Luật mới kỳ vọng mở thêm dư địa cho doanh nghiệp số và đổi mới công nghệ

Điểm doanh nghiệp cần chú ý trong dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 luật nằm ở việc giảm thủ tục, tăng phân quyền và tạo thêm hành lang cho kinh tế số, chuyển giao công nghệ và hạ tầng viễn thông.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Gỡ vướng cho doanh nghiệp không dừng ở “trả lời kiến nghị”

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Gỡ vướng cho doanh nghiệp không dừng ở “trả lời kiến nghị”

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành chuyển từ việc trả lời kiến nghị sang xử lý đến cùng, xác định rõ đầu mối, thời hạn và giải pháp để doanh nghiệp thực sự tháo gỡ được khó khăn.
ĐBQH đề xuất cơ chế khai thác từng phần, sớm đưa vật liệu vào công trường

ĐBQH đề xuất cơ chế khai thác từng phần, sớm đưa vật liệu vào công trường

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đề xuất công nhận kết quả thăm dò và cho phép khai thác từng phần đối với khu vực đã xác định đủ điều kiện, ĐBQH Thái Thị An Chung cho rằng giải pháp này có thể rút ngắn thời gian cung ứng vật liệu cho các dự án, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản.
Chính phủ đặt trọng tâm nâng chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng việc làm bền vững

Chính phủ đặt trọng tâm nâng chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng việc làm bền vững

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1538/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng việc làm và kỹ năng lao động, hướng tới đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới.
Cần ưu tiên đoạn tuyến Vành đai 5 - vùng Thủ đô để tạo hiệu quả sớm

Cần ưu tiên đoạn tuyến Vành đai 5 - vùng Thủ đô để tạo hiệu quả sớm

Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội dài khoảng 349 km nhưng giai đoạn 2026 - 2030 mới ưu tiên khoảng 116 km. Trong bối cảnh ngân sách trung ương dự kiến bố trí 59.700 tỷ đồng, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải tính kỹ thứ tự đầu tư để vốn bỏ ra sớm tạo hiệu quả.