Thứ sáu 27/02/2026 18:27
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Việt Nam phải cải thiện cơ sở hạ tầng và có cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp SME

12/10/2020 00:00
Làm thế nào Việt Nam có thể tận dụng tốt nhất cơ hội, đón nhận được dòng vốn đầu tư chất lượng cao?.. Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB tại Việt Nam Nguyễn Minh Cường đã đưa ra góc nhìn của mình.

Làm thế nào Việt Nam có thể tận dụng tốt nhất cơ hội, đón nhận được dòng vốn đầu tư chất lượng cao? Làm thế nào để giải quyết được khó khăn căn bản về tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, để doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phát triển lớn mạnh, tận dụng cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước trong vận hội mới? Ông Nguyễn Minh Cường, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB tại Việt Nam đã đưa ra góc nhìn của mình trong cuộc trao đổi với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập:

Ông Nguyễn Minh Cường – Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển châu Á – ADB tại Việt Nam

Cần tránh trở thành bến đỗ “tạm thời”

ADB nhận định kinh tế Việt Nam sẽ phát triển ra sao về trung và dài hạn sau đại dịch COVID-19 và sau khi các Hiệp định EVFTA và EVIPA chính thức có hiệu lực, thưa ông?

Ông Nguyễn Minh Cường: Nhiều năm trở lại đây, Việt Nam trở thành một nền kinh tế mở phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài. Trong khi đó, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới, những đối tác xuất nhập khẩu của Việt Nam đã và đang bị ảnh hưởng trầm trọng, rơi vào suy thoái. Chính vì vậy, kinh tế Việt Nam sẽ không tránh khỏi những tác động mang tính tiêu cực. ADB cũng đã dự báo năm 2020, kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng 4,1%. Nếu đạt được thì đây cũng là mức tăng trưởng rất cao so với khu vực và thế giới.

Về trung hạn và dài hạn, ngay từ trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát, ADB đã dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển rất mạnh từ 6.8%-7%/năm, đến nay mức dự báo này vẫn được ADB giữ nguyên cho kịch bản Việt Nam và thế giới kiểm soát tốt dịch COVID-19. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam về trung và dài hạn sẽ dựa trên một số động lực chính. Thứ nhất là cùng với đà tăng trưởng của nền kinh tế, tầng lớp trung lưu tại Việt Nam tăng lên mạnh mẽ, chính điều này giúp đẩy mạnh tiêu dùng nội địa, đây là một trong những điểm sáng của kinh tế Việt Nam và sẽ tiếp tục là động lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới. Thứ hai, là sự tham gia đóng góp tích cực của kinh tế tư nhân vào tăng trưởng GDP, ngoài đóng góp của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

Logistics vẫn chiếm tỷ trọng quá cao trong tổng chi phí doanh nghiệp

Động lực thứ ba có lẽ là quan trọng nhất, đó chính là sự dịch chuyển đầu tư FDI, dưới tác động của chuyển đổi cơ cấu kinh tế toàn cầu – đặc biệt là dòng chảy thương mại và đầu tư – từ trước khi xảy ra chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch, và các yếu tố địa chính trị trong khu vực và trên thế giới. Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch đã thúc đẩy nhanh hơn và sâu sắc hơn tiến trình chuyển dịch cơ cấu này. Với kết quả đầy tích cực về phòng dịch COVID-19, với thị trường gần 100 triệu dân có mức thu nhập trung bình trên thế giới, với vị trí địa lý thuận lợi để tiếp cận thị trường đầy tiềm năng của Châu Á, với cơ hội tiếp cận các thị trường khác trên thế giới qua các hiệp định thương mại song phương, Việt Nam trở thành điểm sáng đáng để nhiều doanh nghiệp lớn trên thế giới phải cân nhắc lựa chọn đầu tư.

Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với nhiều nước khác để thu hút vốn đầu tư. Vậy theo ông, đâu sẽ là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam?

Ông Nguyễn Minh Cường: Việt Nam có một số lợi thế để cạnh tranh với những quốc gia khác khi thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, như lao động nhân công chi phí thấp, môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, nhiều hiệp định song phương, đa phương được ký kết với Châu Âu, Mỹ và nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới, tạo tiền đề cực kỳ thuận lợi cho sản xuất xuất khẩu, sự cam kết và nỗ lực của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh... Tuy nhiên, theo tôi lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam so với những quốc gia khác chính là sự ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, và một thị trường nội địa gần 100 triệu dân năng động và nhiều tiềm năng, đặc biệt là tính hiệu quả của hệ thống chính trị đã được thể hiện rất rõ trước và trong đại dịch COVID-19 vừa qua.

Hạ tầng yếu kém là “yếu điểm” của Việt Nam

Việt Nam mong muốn tập trung thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Theo ông, Việt Nam cần phải làm gì để thu hút được nhà đầu tư vào những dự án như vậy?

Ông Nguyễn Minh Cường: Những nhà đầu tư “chất lượng cao” trước khi đầu tư đều có nghiên cứu kỹ càng, cẩn thận. Họ đầu tư mang tính chất lâu dài, do vậy sẽ cân nhắc nhiều yếu tố chiến lược trước khi quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư được đưa ra xem xét. Ngoài Việt Nam cũng còn nhiều quốc gia khác muốn thu hút đầu tư từ những doanh nghiệp này. Bởi vậy, để thu hút được những dự án đầu tư chất lượng cao, môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn cần phải được cải thiện rất nhiều, đây cũng chính là một trong những yếu tố được các nhà đầu tư lớn trên thế giới tập trung quan tâm. Ngoài ra, những yếu tố khác như cơ sở hạ tầng, năng suất lao động, trình độ nguồn nhân lực, tính minh bạch trong kinh doanh, chính sách pháp luật… cũng là những yếu tố góp phần đáng kể vào quyết định lựa chọn đầu tư của những nhà đầu tư “chất lượng cao”. Nếu như Việt Nam không có sự cải thiện đáng kể những yếu tố trên, vấn đề cạnh tranh và thu hút đầu tư từ những nhà đầu tư “chất lượng cao” chỉ là giấc mơ xa vời. Thay vào đó, chúng ta chỉ có thể thu hút được những nhà đầu tư nhỏ lẻ, những nhà đầu tư dịch chuyển “tạm thời”, mang tính chất “tránh bão” trong thời điểm chiến tranh thương mại và đại dịch COVID-19 bùng phát.

Thị trường 100 triệu dân đầy tiềm năng của Việt Nam rất hấp dẫn nhà đầu tư ngoại

Ngoài ra, Việt Nam cũng cần quan tâm hơn đến dòng đầu tư mua bán sáp nhập công ty (M&A), đặc biệt là ở châu Á. Do thanh khoản dồi dào vì đầu tư sản xuất bị hạn chế, giá các tài sản (assets) trong khu vực và trên thế giới hiện đang đi xuống. Đặc biệt, để chiếm lĩnh mạng lưới phân phối nội địa sẵn có của các công ty đang trên bờ vực phá sản cũng như tận dụng cơ hội tiếp cận thị trường dưới danh nghĩa sản xuất nội địa, nhiều nhà đầu tư lựa chọn việc hình thức M&A. Trong thời điểm chính tranh thương mại leo thang diễn biến phức tạp, các dòng đầu tư mua cổ phần doanh nghiệp tăng đột biến. Hiện tượng này vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức rất lớn của Việt Nam trong quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài.

ADB sẽ hỗ trợ Việt Nam thế nào trong việc thu hút nhà đầu tư “chất lượng cao”, thưa ông?

Ông Nguyễn Minh Cường: Như đã nói, một trong những yếu tố được ADB xác định là điểm còn hạn chế của Việt Nam là cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh gây tăng chi phí logistic, như hiện tại theo tính toán, logistic chiếm tới gần 20% tổng chi phí của doanh nghiệp. Chi phí như vậy là quá cao so với tại các nước khác, gây áp lực lên giá thành sản phẩm, khiến nhà đầu tư băn khoăn cân nhắc trước khi đầu tư. Các dự án của ADB tập trung chủ yếu vào phát triển cơ sở hạ tầng và biến đổi khí hậu, chiếm tới 70%-80% tổng vốn đầu tư. Nhiều dự án phát triển cơ sở hạ tầng được ADB triển khai tại Việt Nam như dự án Metro Hà Nội và TP. HCM, dự án cao tốc Nội Bài - Lào Cai… Trong số đó, dự án cao tốc Nội Bài - Lào Cai đã giúp chuyển đổi hẳn khu vực Tây Bắc Việt Nam, tạo đà tăng trưởng kinh tế khu vực. Lào Cai trước đây còn tụt hậu nhiều so với Lạng Sơn, Quảng Ninh nhưng từ khi có đường cao tốc, kinh tế Lào Cai đã có sự phát triển vượt trội, đầu tư nước ngoài vào Lào Cai tăng lên đáng kể. Ngoài ra, còn rất nhiều dự án đã và đang được ADB triển khai phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ thu hút nhà đầu tư, đặc biệt là những nhà đầu tư chất lượng cao vào Việt Nam.

Việt Nam cần cải thiện rất nhiều nếu muốn thúc đẩy doanh nghiệp SMEs phát triển

Trong thời gian tới, ADB sẽ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Việt Nam như thế nào trong việc tiếp cận nguồn tài chính – lĩnh vực được coi là khó khăn nhất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam?

Ông Nguyễn Minh Cường: Theo phân tích của ADB, trước khi đại dịch COVID-19 xảy ra, hệ thống ngân hàng, cơ chế tín dụng của Việt Nam so với một số nước khác trong ASEAN được coi là có phần tốt hơn, tỉ lệ tiếp cận vốn của doanh nghiệp Việt Nam khả quan hơn. Tuy nhiên trong và sau khủng hoảng, cơ chế tiếp cận vốn của tổ chức tín dụng tại Việt Nam dành cho doanh nghiệp lại có phần hạn chế, khó khăn hơn so với nhiều nước khác. Trong khủng hoảng gây ra bởi đại dịch COVID-19, Chính phủ nhiều nước đưa ra cơ chế bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên tại Việt Nam, cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp bị tác động của đại dịch chưa phát huy hết hiệu quả.

Chân thành cảm ơn ông về cuộc trao đổi ngày hôm nay!

Tại Việt Nam hiện nay, ngoài ngân hàng thương mại, doanh nghiệp SMEs còn có thể tiếp cận vốn từ nhiều nguồn khác như Quỹ tín dụng nhân dân, Bộ Kế hoạch và đầu tư cùng Hiệp hội cũng có một quỹ dành riêng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên vấn đề vướng mắc ở đây là cơ chế cho vay của những tổ chức này không khác gì so với cơ chế của ngân hàng, không có cơ chế bảo lãnh tín dụng của Chính phủ như nhiều nước khác. Vì vậy theo tôi, đây là điểm nghẽn gây cản trở khả năng tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.

Trong thời gian tới, ADB sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng, tổ chức nghiên cứu khảo sát thực tế về khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa bị tác động bới COVID-19, sau đó sẽ có đề xuất cụ thể để tạo cơ chế bảo lãnh tín dụng linh hoạt hơn cho doanh nghiệp SMEs khi tiếp cận vốn.

Ngọc Thái (t/h)

Tin bài khác
Vĩnh Long: Đột phá từ sự hội tụ ba không gian kinh tế

Vĩnh Long: Đột phá từ sự hội tụ ba không gian kinh tế

Từ những dòng hàng hóa xuôi sông ra biển đến những container hướng thẳng thị trường quốc tế, tỉnh Vĩnh Long mới đang đứng trước cơ hội tái định vị vai trò của mình trên bản đồ kinh tế vùng. Hợp nhất không phải là phép cộng cơ học, mà là phép nhân chiến lược – nơi ba không gian kinh tế hợp lực thành một cấu trúc phát triển đủ chiều sâu và đủ sức cạnh tranh.
Lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng trực tiếp gặp doanh nghiệp, tăng tốc gỡ vướng cho 359 dự án ngoài ngân sách

Lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng trực tiếp gặp doanh nghiệp, tăng tốc gỡ vướng cho 359 dự án ngoài ngân sách

Trước thực trạng nhiều dự án đầu tư ngoài ngân sách trên địa bàn còn vướng mắc thủ tục, tỉnh Lâm Đồng sẽ tổ chức buổi gặp gỡ, trao đổi, chia sẻ với doanh nghiệp và nhà đầu tư để bàn hướng tháo gỡ. Theo thông tin công bố, buổi làm việc dự kiến diễn ra ngày 1/3/2026, với thành phần tham dự gồm lãnh đạo tỉnh, các sở ngành, các Tổ công tác và các doanh nghiệp có dự án gặp khó khăn.
Ba kịch bản lạm phát năm 2026: CPI dự báo tăng 3,6–4,6%

Ba kịch bản lạm phát năm 2026: CPI dự báo tăng 3,6–4,6%

Bộ Tài chính vừa cập nhật ba kịch bản lạm phát năm 2026, trong đó chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm có thể tăng từ 3,6% đến 4,6% so với năm 2025, tùy theo diễn biến kinh tế trong nước và quốc tế.
Siết kỷ luật dự án điện khí LNG

Siết kỷ luật dự án điện khí LNG

Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu rút giấy phép, chấm dứt hoạt động đối với các dự án điện khí LNG không triển khai đúng quy định, nhằm bảo đảm hiệu quả đầu tư và an ninh năng lượng quốc gia.
Phú Thọ kéo dài 1.635 tỷ vốn đầu tư công sang năm 2026

Phú Thọ kéo dài 1.635 tỷ vốn đầu tư công sang năm 2026

HĐND tỉnh Phú Thọ cho phép 26 dự án, công trình được kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân vốn ngân sách Trung ương năm 2025 sang năm 2026, tổng vốn hơn 1.635 tỷ đồng.
Ba kịch bản lạm phát 2026: Mục tiêu kiểm soát quanh ngưỡng 4,5%

Ba kịch bản lạm phát 2026: Mục tiêu kiểm soát quanh ngưỡng 4,5%

Trên cơ sở mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% năm 2026, Bộ Tài chính xây dựng ba kịch bản tăng CPI ở mức 3,6%; 4,1% và 4,6%. Các phương án được tính toán dựa trên diễn biến giá hàng hóa thiết yếu, điều chỉnh dịch vụ do Nhà nước quản lý và những yếu tố trong, ngoài nước có thể tạo áp lực lên mặt bằng giá năm tới.
Nửa đầu tháng 2/2026: Xuất nhập khẩu vượt 41,6 tỷ USD, nhập siêu gần 1 tỷ USD

Nửa đầu tháng 2/2026: Xuất nhập khẩu vượt 41,6 tỷ USD, nhập siêu gần 1 tỷ USD

Trong 15 ngày đầu tháng 2/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 41,67 tỷ USD, tăng hơn 31% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến nhập khẩu tăng mạnh theo chu kỳ sản xuất sau Tết khiến cán cân thương mại tạm thời nhập siêu khoảng 948 triệu USD.
Thị trường EU và Anh giảm cầu, doanh nghiệp Việt xoay trục ra sao để giữ mục tiêu 550 tỷ USD?

Thị trường EU và Anh giảm cầu, doanh nghiệp Việt xoay trục ra sao để giữ mục tiêu 550 tỷ USD?

Nhu cầu nhập khẩu tại EU và Anh suy yếu nhiều quý liên tiếp đang tạo thêm áp lực cho xuất khẩu Việt Nam, trong bối cảnh năm 2026, năm bản lề của giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi phải chuyển mạnh sang tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực tự chủ.
Thủ tướng Chính phủ chủ trì phiên họp đầu năm về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và Đề án 06

Thủ tướng Chính phủ chủ trì phiên họp đầu năm về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và Đề án 06

Chiều 25/2, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính – Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 – chủ trì phiên họp lần thứ nhất năm 2026, đánh giá kết quả triển khai thời gian qua và đề ra nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong giai đoạn tới.
Thí điểm thuê CEO doanh nghiệp nhà nước

Thí điểm thuê CEO doanh nghiệp nhà nước

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà yêu cầu nghiên cứu cơ chế thí điểm thuê tổng giám đốc (CEO) doanh nghiệp nhà nước (DNNN), thay vì chỉ bổ nhiệm cán bộ theo quy hoạch như hiện nay.
Hà Nội đặt mục tiêu có 1–3 doanh nghiệp vào Top 500 Đông Nam Á

Hà Nội đặt mục tiêu có 1–3 doanh nghiệp vào Top 500 Đông Nam Á

Hà Nội đang đồng thời triển khai các chương trình hành động thực hiện loạt nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, với những mục tiêu cụ thể, có tính đột phá trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và phát triển kinh tế nhà nước.
Giữa năm 2026 sẽ đề xuất phương án tăng lương tối thiểu mới

Giữa năm 2026 sẽ đề xuất phương án tăng lương tối thiểu mới

Tổ chức Công đoàn dự kiến xây dựng và trình phương án điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng mới trong tháng 5–6/2026, làm cơ sở tham gia đàm phán tại Hội đồng Tiền lương Quốc gia.
Lần đầu xác lập đầy đủ nội hàm kinh tế nhà nước trong một nghị quyết chuyên đề

Lần đầu xác lập đầy đủ nội hàm kinh tế nhà nước trong một nghị quyết chuyên đề

Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã trình bày những nội dung cốt lõi và điểm mới mang tính đột phá về phát triển kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới.
Rà soát toàn diện, chủ động chuẩn bị làm việc với EC về chống khai thác hải sản IUU

Rà soát toàn diện, chủ động chuẩn bị làm việc với EC về chống khai thác hải sản IUU

Chiều 24/2/2026, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), chủ trì phiên họp thứ 31 của Ban Chỉ đạo.
Lâm Đồng chuẩn bị công bố Quy hoạch chung Khu Du lịch quốc gia Mũi Né

Lâm Đồng chuẩn bị công bố Quy hoạch chung Khu Du lịch quốc gia Mũi Né

Chiều 24/2, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Minh chủ trì cuộc họp rà soát tiến độ chuẩn bị Hội nghị công bố Quy hoạch chung xây dựng Khu Du lịch quốc gia Mũi Né đến năm 2040, tầm nhìn 2050. Theo kế hoạch, đồ án sẽ chính thức được công bố vào tháng 4/2026.