Thứ hai 21/09/2026 03:08
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Việt Nam phải cải thiện cơ sở hạ tầng và có cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp SME

12/10/2020 00:00
Làm thế nào Việt Nam có thể tận dụng tốt nhất cơ hội, đón nhận được dòng vốn đầu tư chất lượng cao?.. Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB tại Việt Nam Nguyễn Minh Cường đã đưa ra góc nhìn của mình.

Làm thế nào Việt Nam có thể tận dụng tốt nhất cơ hội, đón nhận được dòng vốn đầu tư chất lượng cao? Làm thế nào để giải quyết được khó khăn căn bản về tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, để doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phát triển lớn mạnh, tận dụng cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước trong vận hội mới? Ông Nguyễn Minh Cường, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB tại Việt Nam đã đưa ra góc nhìn của mình trong cuộc trao đổi với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập:

Ông Nguyễn Minh Cường – Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển châu Á – ADB tại Việt Nam

Cần tránh trở thành bến đỗ “tạm thời”

ADB nhận định kinh tế Việt Nam sẽ phát triển ra sao về trung và dài hạn sau đại dịch COVID-19 và sau khi các Hiệp định EVFTA và EVIPA chính thức có hiệu lực, thưa ông?

Ông Nguyễn Minh Cường: Nhiều năm trở lại đây, Việt Nam trở thành một nền kinh tế mở phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài. Trong khi đó, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới, những đối tác xuất nhập khẩu của Việt Nam đã và đang bị ảnh hưởng trầm trọng, rơi vào suy thoái. Chính vì vậy, kinh tế Việt Nam sẽ không tránh khỏi những tác động mang tính tiêu cực. ADB cũng đã dự báo năm 2020, kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng 4,1%. Nếu đạt được thì đây cũng là mức tăng trưởng rất cao so với khu vực và thế giới.

Về trung hạn và dài hạn, ngay từ trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát, ADB đã dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển rất mạnh từ 6.8%-7%/năm, đến nay mức dự báo này vẫn được ADB giữ nguyên cho kịch bản Việt Nam và thế giới kiểm soát tốt dịch COVID-19. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam về trung và dài hạn sẽ dựa trên một số động lực chính. Thứ nhất là cùng với đà tăng trưởng của nền kinh tế, tầng lớp trung lưu tại Việt Nam tăng lên mạnh mẽ, chính điều này giúp đẩy mạnh tiêu dùng nội địa, đây là một trong những điểm sáng của kinh tế Việt Nam và sẽ tiếp tục là động lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới. Thứ hai, là sự tham gia đóng góp tích cực của kinh tế tư nhân vào tăng trưởng GDP, ngoài đóng góp của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

Logistics vẫn chiếm tỷ trọng quá cao trong tổng chi phí doanh nghiệp

Động lực thứ ba có lẽ là quan trọng nhất, đó chính là sự dịch chuyển đầu tư FDI, dưới tác động của chuyển đổi cơ cấu kinh tế toàn cầu – đặc biệt là dòng chảy thương mại và đầu tư – từ trước khi xảy ra chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch, và các yếu tố địa chính trị trong khu vực và trên thế giới. Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch đã thúc đẩy nhanh hơn và sâu sắc hơn tiến trình chuyển dịch cơ cấu này. Với kết quả đầy tích cực về phòng dịch COVID-19, với thị trường gần 100 triệu dân có mức thu nhập trung bình trên thế giới, với vị trí địa lý thuận lợi để tiếp cận thị trường đầy tiềm năng của Châu Á, với cơ hội tiếp cận các thị trường khác trên thế giới qua các hiệp định thương mại song phương, Việt Nam trở thành điểm sáng đáng để nhiều doanh nghiệp lớn trên thế giới phải cân nhắc lựa chọn đầu tư.

Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với nhiều nước khác để thu hút vốn đầu tư. Vậy theo ông, đâu sẽ là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam?

Ông Nguyễn Minh Cường: Việt Nam có một số lợi thế để cạnh tranh với những quốc gia khác khi thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, như lao động nhân công chi phí thấp, môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, nhiều hiệp định song phương, đa phương được ký kết với Châu Âu, Mỹ và nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới, tạo tiền đề cực kỳ thuận lợi cho sản xuất xuất khẩu, sự cam kết và nỗ lực của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh... Tuy nhiên, theo tôi lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam so với những quốc gia khác chính là sự ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, và một thị trường nội địa gần 100 triệu dân năng động và nhiều tiềm năng, đặc biệt là tính hiệu quả của hệ thống chính trị đã được thể hiện rất rõ trước và trong đại dịch COVID-19 vừa qua.

Hạ tầng yếu kém là “yếu điểm” của Việt Nam

Việt Nam mong muốn tập trung thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Theo ông, Việt Nam cần phải làm gì để thu hút được nhà đầu tư vào những dự án như vậy?

Ông Nguyễn Minh Cường: Những nhà đầu tư “chất lượng cao” trước khi đầu tư đều có nghiên cứu kỹ càng, cẩn thận. Họ đầu tư mang tính chất lâu dài, do vậy sẽ cân nhắc nhiều yếu tố chiến lược trước khi quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư được đưa ra xem xét. Ngoài Việt Nam cũng còn nhiều quốc gia khác muốn thu hút đầu tư từ những doanh nghiệp này. Bởi vậy, để thu hút được những dự án đầu tư chất lượng cao, môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn cần phải được cải thiện rất nhiều, đây cũng chính là một trong những yếu tố được các nhà đầu tư lớn trên thế giới tập trung quan tâm. Ngoài ra, những yếu tố khác như cơ sở hạ tầng, năng suất lao động, trình độ nguồn nhân lực, tính minh bạch trong kinh doanh, chính sách pháp luật… cũng là những yếu tố góp phần đáng kể vào quyết định lựa chọn đầu tư của những nhà đầu tư “chất lượng cao”. Nếu như Việt Nam không có sự cải thiện đáng kể những yếu tố trên, vấn đề cạnh tranh và thu hút đầu tư từ những nhà đầu tư “chất lượng cao” chỉ là giấc mơ xa vời. Thay vào đó, chúng ta chỉ có thể thu hút được những nhà đầu tư nhỏ lẻ, những nhà đầu tư dịch chuyển “tạm thời”, mang tính chất “tránh bão” trong thời điểm chiến tranh thương mại và đại dịch COVID-19 bùng phát.

Thị trường 100 triệu dân đầy tiềm năng của Việt Nam rất hấp dẫn nhà đầu tư ngoại

Ngoài ra, Việt Nam cũng cần quan tâm hơn đến dòng đầu tư mua bán sáp nhập công ty (M&A), đặc biệt là ở châu Á. Do thanh khoản dồi dào vì đầu tư sản xuất bị hạn chế, giá các tài sản (assets) trong khu vực và trên thế giới hiện đang đi xuống. Đặc biệt, để chiếm lĩnh mạng lưới phân phối nội địa sẵn có của các công ty đang trên bờ vực phá sản cũng như tận dụng cơ hội tiếp cận thị trường dưới danh nghĩa sản xuất nội địa, nhiều nhà đầu tư lựa chọn việc hình thức M&A. Trong thời điểm chính tranh thương mại leo thang diễn biến phức tạp, các dòng đầu tư mua cổ phần doanh nghiệp tăng đột biến. Hiện tượng này vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức rất lớn của Việt Nam trong quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài.

ADB sẽ hỗ trợ Việt Nam thế nào trong việc thu hút nhà đầu tư “chất lượng cao”, thưa ông?

Ông Nguyễn Minh Cường: Như đã nói, một trong những yếu tố được ADB xác định là điểm còn hạn chế của Việt Nam là cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh gây tăng chi phí logistic, như hiện tại theo tính toán, logistic chiếm tới gần 20% tổng chi phí của doanh nghiệp. Chi phí như vậy là quá cao so với tại các nước khác, gây áp lực lên giá thành sản phẩm, khiến nhà đầu tư băn khoăn cân nhắc trước khi đầu tư. Các dự án của ADB tập trung chủ yếu vào phát triển cơ sở hạ tầng và biến đổi khí hậu, chiếm tới 70%-80% tổng vốn đầu tư. Nhiều dự án phát triển cơ sở hạ tầng được ADB triển khai tại Việt Nam như dự án Metro Hà Nội và TP. HCM, dự án cao tốc Nội Bài - Lào Cai… Trong số đó, dự án cao tốc Nội Bài - Lào Cai đã giúp chuyển đổi hẳn khu vực Tây Bắc Việt Nam, tạo đà tăng trưởng kinh tế khu vực. Lào Cai trước đây còn tụt hậu nhiều so với Lạng Sơn, Quảng Ninh nhưng từ khi có đường cao tốc, kinh tế Lào Cai đã có sự phát triển vượt trội, đầu tư nước ngoài vào Lào Cai tăng lên đáng kể. Ngoài ra, còn rất nhiều dự án đã và đang được ADB triển khai phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ thu hút nhà đầu tư, đặc biệt là những nhà đầu tư chất lượng cao vào Việt Nam.

Việt Nam cần cải thiện rất nhiều nếu muốn thúc đẩy doanh nghiệp SMEs phát triển

Trong thời gian tới, ADB sẽ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Việt Nam như thế nào trong việc tiếp cận nguồn tài chính – lĩnh vực được coi là khó khăn nhất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam?

Ông Nguyễn Minh Cường: Theo phân tích của ADB, trước khi đại dịch COVID-19 xảy ra, hệ thống ngân hàng, cơ chế tín dụng của Việt Nam so với một số nước khác trong ASEAN được coi là có phần tốt hơn, tỉ lệ tiếp cận vốn của doanh nghiệp Việt Nam khả quan hơn. Tuy nhiên trong và sau khủng hoảng, cơ chế tiếp cận vốn của tổ chức tín dụng tại Việt Nam dành cho doanh nghiệp lại có phần hạn chế, khó khăn hơn so với nhiều nước khác. Trong khủng hoảng gây ra bởi đại dịch COVID-19, Chính phủ nhiều nước đưa ra cơ chế bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên tại Việt Nam, cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp bị tác động của đại dịch chưa phát huy hết hiệu quả.

Chân thành cảm ơn ông về cuộc trao đổi ngày hôm nay!

Tại Việt Nam hiện nay, ngoài ngân hàng thương mại, doanh nghiệp SMEs còn có thể tiếp cận vốn từ nhiều nguồn khác như Quỹ tín dụng nhân dân, Bộ Kế hoạch và đầu tư cùng Hiệp hội cũng có một quỹ dành riêng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên vấn đề vướng mắc ở đây là cơ chế cho vay của những tổ chức này không khác gì so với cơ chế của ngân hàng, không có cơ chế bảo lãnh tín dụng của Chính phủ như nhiều nước khác. Vì vậy theo tôi, đây là điểm nghẽn gây cản trở khả năng tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.

Trong thời gian tới, ADB sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng, tổ chức nghiên cứu khảo sát thực tế về khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa bị tác động bới COVID-19, sau đó sẽ có đề xuất cụ thể để tạo cơ chế bảo lãnh tín dụng linh hoạt hơn cho doanh nghiệp SMEs khi tiếp cận vốn.

Ngọc Thái (t/h)

Tin bài khác
UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

Hội nghị Kết nối đối tác khu vực công UEH 2026 cho thấy một hướng tiếp cận mới trong quan hệ giữa đại học và khu vực công: không dừng ở hợp tác, chia sẻ tri thức mà tiến tới cùng xác định vấn đề, thiết kế giải pháp, triển khai và tạo ra những giá trị có khả năng ứng dụng trong thực tiễn.
Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành đang chuyển từ giai đoạn thi công sang hoàn thiện và kiểm tra đồng bộ để chuẩn bị vận hành thử từ cuối tháng 9/2026. Trong khi nhiều gói thầu đã đạt trên 90% giá trị hợp đồng, áp lực lớn nhất hiện nằm ở khả năng khớp nối nhà ga, khu bay, hạ tầng kỹ thuật và các hệ thống phục vụ khai thác.
Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Kim ngạch thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ tiếp tục tăng mạnh, đạt khoảng 137,42 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô trao đổi ngày càng lớn mở thêm dư địa hợp tác, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu hai nền kinh tế chuyển mạnh từ tăng trưởng thương mại sang hợp tác sâu hơn về công nghệ, đầu tư, năng lượng và chuỗi cung ứng.
Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày 18/9, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định 1809/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính chuẩn bị tổ chức chương trình tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế không kèm phát hành trái phiếu, nhằm cập nhật bức tranh kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, tiền tệ và quản lý nợ công. Hoạt động này cũng mở thêm kênh đối thoại với thị trường vốn toàn cầu trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và hướng tới mức xếp hạng tín nhiệm đầu tư.
Đề xuất cơ chế 2 bước công nhận khu kinh tế đặc biệt

Đề xuất cơ chế 2 bước công nhận khu kinh tế đặc biệt

Bộ Tài chính đề xuất việc công nhận khu kinh tế đặc biệt được thực hiện theo cơ chế đánh giá hai bước: địa bàn phải đáp ứng đầy đủ 4 điều kiện đầu vào, sau đó đạt từ 90/100 điểm theo 5 nhóm tiêu chí mới được xem xét công nhận.
Hải Phòng bàn giải pháp nâng sức chống chịu của sản xuất trong nước

Hải Phòng bàn giải pháp nâng sức chống chịu của sản xuất trong nước

Trước những biến động ngày càng lớn của thương mại toàn cầu, Diễn đàn Phòng vệ thương mại 2026 tại Hải Phòng đặt trọng tâm vào nâng năng lực sản xuất, cảnh báo sớm rủi ro và hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó hiệu quả.
Rà soát pháp luật để khơi thông nguồn lực cho kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Rà soát pháp luật để khơi thông nguồn lực cho kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Bộ Tài chính đang đẩy mạnh tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, đồng thời tiếp tục hoàn thiện các cơ chế phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.
Chủ tịch VINASME Nguyễn Văn Thân đề xuất mở thêm kênh vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chủ tịch VINASME Nguyễn Văn Thân đề xuất mở thêm kênh vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) Nguyễn Văn Thân đề xuất một loạt giải pháp nhằm mở rộng chủ thể cung ứng vốn, khai thác dòng tiền và các tài sản hình thành trong quá trình kinh doanh.
TP. Hồ Chí Minh xác lập đầu mối mới cho kinh tế tập thể

TP. Hồ Chí Minh xác lập đầu mối mới cho kinh tế tập thể

Điều lệ mới xác lập cơ chế tổ chức và hoạt động của Liên minh Hợp tác xã TP. Hồ Chí Minh sau hợp nhất, đồng thời mở rộng không gian hỗ trợ khu vực kinh tế tập thể trên địa bàn Thành phố.
Đồng bằng sông Cửu Long tháo gỡ ba nút thắt giao thông, vật liệu và năng lượng

Đồng bằng sông Cửu Long tháo gỡ ba nút thắt giao thông, vật liệu và năng lượng

Từ cao tốc, nguồn vật liệu đến các dự án nhiệt điện và chuỗi khí Lô B - Ô Môn, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đứng trước yêu cầu tăng tốc đồng loạt để không làm chậm nhịp phát triển hạ tầng và năng lượng của vùng.
Tiết kiệm năng lượng: Bài toán chi phí trở thành động lực chuyển đổi xanh

Tiết kiệm năng lượng: Bài toán chi phí trở thành động lực chuyển đổi xanh

Từ giảm chi phí sản xuất đến đổi mới công nghệ và giảm phát thải, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả đang mở ra hướng đi mới cho doanh nghiệp công nghiệp. Những giải pháp biến chủ trương thành hành động thực tế được Bộ Công Thương đưa ra trao đổi tại Hải Phòng ngày 16/9.
TP. Hồ Chí Minh: FDI vượt 10 tỷ USD, cắt 42% dự án đầu tư công để dồn vốn cho hạ tầng

TP. Hồ Chí Minh: FDI vượt 10 tỷ USD, cắt 42% dự án đầu tư công để dồn vốn cho hạ tầng

8 tháng đầu năm 2026, TP. Hồ Chí Minh thu hút gần 10,06 tỷ USD vốn FDI, tăng 167% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tỷ lệ giải ngân đầu tư công đạt 57,7% kế hoạch, cao hơn bình quân chung cả nước. Thành phố cũng quyết định cắt giảm 42% số lượng dự án đầu tư công giai đoạn 2026-2030 để tập trung nguồn lực cho hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư theo phương thức PPP.
TP. Hồ Chí Minh quy hoạch 8 tuyến đường sắt, cần 544.231 tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh quy hoạch 8 tuyến đường sắt, cần 544.231 tỷ đồng

Cục Đường sắt Việt Nam đề xuất quy hoạch hệ thống đường sắt khu vực đầu mối TP. Hồ Chí Minh gồm 8 tuyến, tổng chiều dài khoảng 508 km và 4 ga đầu mối. Tổng nhu cầu vốn dự kiến 544.231 tỷ đồng, trong đó giai đoạn đến năm 2030 cần 92.673 tỷ đồng.
Lâm Đồng giải bài toán 1,1 triệu tỷ đồng và cực tăng trưởng kết nối ba vùng

Lâm Đồng giải bài toán 1,1 triệu tỷ đồng và cực tăng trưởng kết nối ba vùng

Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn định hình một cấu trúc kinh tế mới, kết nối cao nguyên, công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế biển.