Thứ ba 10/03/2026 05:20
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Việt Nam phải cải thiện cơ sở hạ tầng và có cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp SME

12/10/2020 00:00
Làm thế nào Việt Nam có thể tận dụng tốt nhất cơ hội, đón nhận được dòng vốn đầu tư chất lượng cao?.. Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB tại Việt Nam Nguyễn Minh Cường đã đưa ra góc nhìn của mình.

Làm thế nào Việt Nam có thể tận dụng tốt nhất cơ hội, đón nhận được dòng vốn đầu tư chất lượng cao? Làm thế nào để giải quyết được khó khăn căn bản về tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, để doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phát triển lớn mạnh, tận dụng cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước trong vận hội mới? Ông Nguyễn Minh Cường, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB tại Việt Nam đã đưa ra góc nhìn của mình trong cuộc trao đổi với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập:

Ông Nguyễn Minh Cường – Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển châu Á – ADB tại Việt Nam

Cần tránh trở thành bến đỗ “tạm thời”

ADB nhận định kinh tế Việt Nam sẽ phát triển ra sao về trung và dài hạn sau đại dịch COVID-19 và sau khi các Hiệp định EVFTA và EVIPA chính thức có hiệu lực, thưa ông?

Ông Nguyễn Minh Cường: Nhiều năm trở lại đây, Việt Nam trở thành một nền kinh tế mở phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài. Trong khi đó, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới, những đối tác xuất nhập khẩu của Việt Nam đã và đang bị ảnh hưởng trầm trọng, rơi vào suy thoái. Chính vì vậy, kinh tế Việt Nam sẽ không tránh khỏi những tác động mang tính tiêu cực. ADB cũng đã dự báo năm 2020, kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng 4,1%. Nếu đạt được thì đây cũng là mức tăng trưởng rất cao so với khu vực và thế giới.

Về trung hạn và dài hạn, ngay từ trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát, ADB đã dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển rất mạnh từ 6.8%-7%/năm, đến nay mức dự báo này vẫn được ADB giữ nguyên cho kịch bản Việt Nam và thế giới kiểm soát tốt dịch COVID-19. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam về trung và dài hạn sẽ dựa trên một số động lực chính. Thứ nhất là cùng với đà tăng trưởng của nền kinh tế, tầng lớp trung lưu tại Việt Nam tăng lên mạnh mẽ, chính điều này giúp đẩy mạnh tiêu dùng nội địa, đây là một trong những điểm sáng của kinh tế Việt Nam và sẽ tiếp tục là động lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới. Thứ hai, là sự tham gia đóng góp tích cực của kinh tế tư nhân vào tăng trưởng GDP, ngoài đóng góp của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

Logistics vẫn chiếm tỷ trọng quá cao trong tổng chi phí doanh nghiệp

Động lực thứ ba có lẽ là quan trọng nhất, đó chính là sự dịch chuyển đầu tư FDI, dưới tác động của chuyển đổi cơ cấu kinh tế toàn cầu – đặc biệt là dòng chảy thương mại và đầu tư – từ trước khi xảy ra chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch, và các yếu tố địa chính trị trong khu vực và trên thế giới. Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch đã thúc đẩy nhanh hơn và sâu sắc hơn tiến trình chuyển dịch cơ cấu này. Với kết quả đầy tích cực về phòng dịch COVID-19, với thị trường gần 100 triệu dân có mức thu nhập trung bình trên thế giới, với vị trí địa lý thuận lợi để tiếp cận thị trường đầy tiềm năng của Châu Á, với cơ hội tiếp cận các thị trường khác trên thế giới qua các hiệp định thương mại song phương, Việt Nam trở thành điểm sáng đáng để nhiều doanh nghiệp lớn trên thế giới phải cân nhắc lựa chọn đầu tư.

Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với nhiều nước khác để thu hút vốn đầu tư. Vậy theo ông, đâu sẽ là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam?

Ông Nguyễn Minh Cường: Việt Nam có một số lợi thế để cạnh tranh với những quốc gia khác khi thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, như lao động nhân công chi phí thấp, môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, nhiều hiệp định song phương, đa phương được ký kết với Châu Âu, Mỹ và nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới, tạo tiền đề cực kỳ thuận lợi cho sản xuất xuất khẩu, sự cam kết và nỗ lực của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh... Tuy nhiên, theo tôi lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam so với những quốc gia khác chính là sự ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, và một thị trường nội địa gần 100 triệu dân năng động và nhiều tiềm năng, đặc biệt là tính hiệu quả của hệ thống chính trị đã được thể hiện rất rõ trước và trong đại dịch COVID-19 vừa qua.

Hạ tầng yếu kém là “yếu điểm” của Việt Nam

Việt Nam mong muốn tập trung thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Theo ông, Việt Nam cần phải làm gì để thu hút được nhà đầu tư vào những dự án như vậy?

Ông Nguyễn Minh Cường: Những nhà đầu tư “chất lượng cao” trước khi đầu tư đều có nghiên cứu kỹ càng, cẩn thận. Họ đầu tư mang tính chất lâu dài, do vậy sẽ cân nhắc nhiều yếu tố chiến lược trước khi quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư được đưa ra xem xét. Ngoài Việt Nam cũng còn nhiều quốc gia khác muốn thu hút đầu tư từ những doanh nghiệp này. Bởi vậy, để thu hút được những dự án đầu tư chất lượng cao, môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn cần phải được cải thiện rất nhiều, đây cũng chính là một trong những yếu tố được các nhà đầu tư lớn trên thế giới tập trung quan tâm. Ngoài ra, những yếu tố khác như cơ sở hạ tầng, năng suất lao động, trình độ nguồn nhân lực, tính minh bạch trong kinh doanh, chính sách pháp luật… cũng là những yếu tố góp phần đáng kể vào quyết định lựa chọn đầu tư của những nhà đầu tư “chất lượng cao”. Nếu như Việt Nam không có sự cải thiện đáng kể những yếu tố trên, vấn đề cạnh tranh và thu hút đầu tư từ những nhà đầu tư “chất lượng cao” chỉ là giấc mơ xa vời. Thay vào đó, chúng ta chỉ có thể thu hút được những nhà đầu tư nhỏ lẻ, những nhà đầu tư dịch chuyển “tạm thời”, mang tính chất “tránh bão” trong thời điểm chiến tranh thương mại và đại dịch COVID-19 bùng phát.

Thị trường 100 triệu dân đầy tiềm năng của Việt Nam rất hấp dẫn nhà đầu tư ngoại

Ngoài ra, Việt Nam cũng cần quan tâm hơn đến dòng đầu tư mua bán sáp nhập công ty (M&A), đặc biệt là ở châu Á. Do thanh khoản dồi dào vì đầu tư sản xuất bị hạn chế, giá các tài sản (assets) trong khu vực và trên thế giới hiện đang đi xuống. Đặc biệt, để chiếm lĩnh mạng lưới phân phối nội địa sẵn có của các công ty đang trên bờ vực phá sản cũng như tận dụng cơ hội tiếp cận thị trường dưới danh nghĩa sản xuất nội địa, nhiều nhà đầu tư lựa chọn việc hình thức M&A. Trong thời điểm chính tranh thương mại leo thang diễn biến phức tạp, các dòng đầu tư mua cổ phần doanh nghiệp tăng đột biến. Hiện tượng này vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức rất lớn của Việt Nam trong quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài.

ADB sẽ hỗ trợ Việt Nam thế nào trong việc thu hút nhà đầu tư “chất lượng cao”, thưa ông?

Ông Nguyễn Minh Cường: Như đã nói, một trong những yếu tố được ADB xác định là điểm còn hạn chế của Việt Nam là cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh gây tăng chi phí logistic, như hiện tại theo tính toán, logistic chiếm tới gần 20% tổng chi phí của doanh nghiệp. Chi phí như vậy là quá cao so với tại các nước khác, gây áp lực lên giá thành sản phẩm, khiến nhà đầu tư băn khoăn cân nhắc trước khi đầu tư. Các dự án của ADB tập trung chủ yếu vào phát triển cơ sở hạ tầng và biến đổi khí hậu, chiếm tới 70%-80% tổng vốn đầu tư. Nhiều dự án phát triển cơ sở hạ tầng được ADB triển khai tại Việt Nam như dự án Metro Hà Nội và TP. HCM, dự án cao tốc Nội Bài - Lào Cai… Trong số đó, dự án cao tốc Nội Bài - Lào Cai đã giúp chuyển đổi hẳn khu vực Tây Bắc Việt Nam, tạo đà tăng trưởng kinh tế khu vực. Lào Cai trước đây còn tụt hậu nhiều so với Lạng Sơn, Quảng Ninh nhưng từ khi có đường cao tốc, kinh tế Lào Cai đã có sự phát triển vượt trội, đầu tư nước ngoài vào Lào Cai tăng lên đáng kể. Ngoài ra, còn rất nhiều dự án đã và đang được ADB triển khai phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ thu hút nhà đầu tư, đặc biệt là những nhà đầu tư chất lượng cao vào Việt Nam.

Việt Nam cần cải thiện rất nhiều nếu muốn thúc đẩy doanh nghiệp SMEs phát triển

Trong thời gian tới, ADB sẽ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Việt Nam như thế nào trong việc tiếp cận nguồn tài chính – lĩnh vực được coi là khó khăn nhất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam?

Ông Nguyễn Minh Cường: Theo phân tích của ADB, trước khi đại dịch COVID-19 xảy ra, hệ thống ngân hàng, cơ chế tín dụng của Việt Nam so với một số nước khác trong ASEAN được coi là có phần tốt hơn, tỉ lệ tiếp cận vốn của doanh nghiệp Việt Nam khả quan hơn. Tuy nhiên trong và sau khủng hoảng, cơ chế tiếp cận vốn của tổ chức tín dụng tại Việt Nam dành cho doanh nghiệp lại có phần hạn chế, khó khăn hơn so với nhiều nước khác. Trong khủng hoảng gây ra bởi đại dịch COVID-19, Chính phủ nhiều nước đưa ra cơ chế bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên tại Việt Nam, cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp bị tác động của đại dịch chưa phát huy hết hiệu quả.

Chân thành cảm ơn ông về cuộc trao đổi ngày hôm nay!

Tại Việt Nam hiện nay, ngoài ngân hàng thương mại, doanh nghiệp SMEs còn có thể tiếp cận vốn từ nhiều nguồn khác như Quỹ tín dụng nhân dân, Bộ Kế hoạch và đầu tư cùng Hiệp hội cũng có một quỹ dành riêng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên vấn đề vướng mắc ở đây là cơ chế cho vay của những tổ chức này không khác gì so với cơ chế của ngân hàng, không có cơ chế bảo lãnh tín dụng của Chính phủ như nhiều nước khác. Vì vậy theo tôi, đây là điểm nghẽn gây cản trở khả năng tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.

Trong thời gian tới, ADB sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng, tổ chức nghiên cứu khảo sát thực tế về khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa bị tác động bới COVID-19, sau đó sẽ có đề xuất cụ thể để tạo cơ chế bảo lãnh tín dụng linh hoạt hơn cho doanh nghiệp SMEs khi tiếp cận vốn.

Ngọc Thái (t/h)

Tin bài khác
Quảng Ngãi chỉ đạo đảm bảo cung ứng xăng dầu trên địa bàn tỉnh

Quảng Ngãi chỉ đạo đảm bảo cung ứng xăng dầu trên địa bàn tỉnh

Trước những biến động khó lường của thị trường năng lượng thế giới, sáng 9/3, UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức họp bàn các giải pháp bảo đảm nguồn cung xăng dầu trên địa bàn.
Thủ tướng yêu cầu bảo đảm hiệu quả khi nghiên cứu đầu tư cao tốc Bảo Hà – Lai Châu

Thủ tướng yêu cầu bảo đảm hiệu quả khi nghiên cứu đầu tư cao tốc Bảo Hà – Lai Châu

Sáng 9/3, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp Thường trực Chính phủ cho ý kiến về nhiều đề xuất của tỉnh Lai Châu, trong đó nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm hiệu quả và tối ưu hóa đầu tư đối với dự án cao tốc Bảo Hà – Lai Châu.
Áp lực chi phí mới bủa vây doanh nghiệp Việt

Áp lực chi phí mới bủa vây doanh nghiệp Việt

Xung đột Trung Đông cùng những biến động thương mại toàn cầu đang tạo ra một “làn sóng chi phí” mới đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Từ dệt may, da giày, hàng không, ngân hàng, bất động sản cho đến các ngành sản xuất như thép, xi măng, nhựa, gỗ hay logistics đều đang phải đối mặt với sức ép gia tăng từ chi phí đầu vào, vận tải và rủi ro chuỗi cung ứng.
Đề xuất giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% để ổn định nguồn cung

Đề xuất giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% để ổn định nguồn cung

Bộ Tài chính đang đề xuất giảm thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) xuống 0% đối với một số mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu đầu vào, nhằm tăng khả năng nhập khẩu và bảo đảm nguồn cung cho thị trường trong nước trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông leo thang.
Mô hình lúa chất lượng cao ở ĐBSCL vượt 197% kế hoạch, thu nhập nông dân tăng ít nhất 20%

Mô hình lúa chất lượng cao ở ĐBSCL vượt 197% kế hoạch, thu nhập nông dân tăng ít nhất 20%

Sau hơn hai năm triển khai đề án phát triển bền vững 1 triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều kết quả tích cực đã được ghi nhận khi diện tích canh tác vượt xa mục tiêu ban đầu, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho nông dân.
Nhật Bản đầu tư gần 79 tỷ USD vào Việt Nam, tiếp tục mở rộng hiện diện trong các ngành công nghệ và công nghiệp hỗ trợ

Nhật Bản đầu tư gần 79 tỷ USD vào Việt Nam, tiếp tục mở rộng hiện diện trong các ngành công nghệ và công nghiệp hỗ trợ

Đánh giá cao môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định và tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam, các doanh nghiệp Nhật Bản đã và đang tăng cường hiện diện tại thị trường này. Tính đến hết tháng 2/2026, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Nhật Bản vào Việt Nam đã đạt gần 79 tỷ USD, với hàng nghìn dự án đang hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản xuất và công nghệ.
Hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn quan trọng ra sao đối với nền kinh tế Việt Nam?

Hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn quan trọng ra sao đối với nền kinh tế Việt Nam?

Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và Nhà máy lọc dầu Dung Quất đang "gánh" 70% nhu cầu xăng dầu trong nước, số còn lại phải nhập khẩu từ bên ngoài.
Trung Đông căng thẳng, Bộ Công Thương thúc đẩy đa dạng nguồn cung xăng dầu

Trung Đông căng thẳng, Bộ Công Thương thúc đẩy đa dạng nguồn cung xăng dầu

Trước nguy cơ gián đoạn tuyến vận tải năng lượng qua Trung Đông, Bộ Công Thương đang thúc đẩy doanh nghiệp đầu mối đa dạng hóa nguồn nhập khẩu xăng dầu từ Đông Nam Á, Australia và Mỹ, đồng thời kích hoạt các kịch bản ứng phó nhằm bảo đảm nguồn cung và ổn định thị trường trong nước.
Chính phủ cho phép Petrovietnam nhập khẩu dầu thô để bảo đảm an ninh năng lượng

Chính phủ cho phép Petrovietnam nhập khẩu dầu thô để bảo đảm an ninh năng lượng

Trước diễn biến căng thẳng tại Trung Đông có nguy cơ tác động đến chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 36/NQ-CP ngày 6/3/2026, đưa ra loạt giải pháp cấp bách nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và ổn định nguồn cung xăng dầu trong nước.
Ứng phó xung đột Trung Đông, Chính phủ triển khai loạt giải pháp bảo đảm an ninh năng lượng

Ứng phó xung đột Trung Đông, Chính phủ triển khai loạt giải pháp bảo đảm an ninh năng lượng

Trước những diễn biến phức tạp của xung đột Trung Đông, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 36/NQ-CP ngày 6/3/2026, đưa ra nhiều giải pháp cấp bách nhằm chủ động ứng phó rủi ro về nguồn cung năng lượng, bảo đảm ổn định thị trường xăng dầu và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước.
Việt Nam hướng tới tăng trưởng 10% năm 2026: Cơ hội và thách thức cho nhà đầu tư quốc tế

Việt Nam hướng tới tăng trưởng 10% năm 2026: Cơ hội và thách thức cho nhà đầu tư quốc tế

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới khi đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 10% vào năm 2026, sau khi đạt gần 8% trong năm 2025, phản ánh quyết tâm của Chính phủ trong việc thúc đẩy cải cách, mở rộng đầu tư hạ tầng và nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm duy trì đà tăng trưởng dài hạn. Trong bối cảnh đó, cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đang theo dõi sát sao những thay đổi về chính sách, môi trường đầu tư và vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Xung đột Trung Đông gây sức ép lên doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh

Xung đột Trung Đông gây sức ép lên doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh

Xung đột Trung Đông đang tạo ra những tác động đáng kể đối với hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh.
Xung đột Trung Đông tác động nhiều chiều đến ngành hàng không Việt Nam

Xung đột Trung Đông tác động nhiều chiều đến ngành hàng không Việt Nam

Trước diễn biến phức tạp của xung đột tại khu vực Trung Đông, Cục Hàng không Việt Nam vừa có đánh giá về những tác động đối với ngành hàng không dân dụng trong nước.
Vốn đầu tư công và FDI duy trì đà tăng trong hai tháng đầu năm 2026

Vốn đầu tư công và FDI duy trì đà tăng trong hai tháng đầu năm 2026

Hoạt động đầu tư trong những tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi vốn đầu tư công được các bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh giải ngân ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ, đồng thời dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục duy trì xu hướng tăng về vốn thực hiện.
Sản xuất công nghiệp hai tháng đầu năm 2026 tăng 10,4%, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực

Sản xuất công nghiệp hai tháng đầu năm 2026 tăng 10,4%, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực

Hoạt động sản xuất công nghiệp trong những tháng đầu năm 2026 ghi nhận tín hiệu tích cực khi chỉ số sản xuất toàn ngành tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, riêng tháng 2 chịu tác động của kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ khiến số ngày làm việc giảm, làm cho chỉ số sản xuất công nghiệp có sự sụt giảm so với tháng trước.