Thứ sáu 04/09/2026 05:41
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Việt Nam phải cải thiện cơ sở hạ tầng và có cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp SME

12/10/2020 00:00
Làm thế nào Việt Nam có thể tận dụng tốt nhất cơ hội, đón nhận được dòng vốn đầu tư chất lượng cao?.. Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB tại Việt Nam Nguyễn Minh Cường đã đưa ra góc nhìn của mình.

Làm thế nào Việt Nam có thể tận dụng tốt nhất cơ hội, đón nhận được dòng vốn đầu tư chất lượng cao? Làm thế nào để giải quyết được khó khăn căn bản về tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, để doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phát triển lớn mạnh, tận dụng cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước trong vận hội mới? Ông Nguyễn Minh Cường, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB tại Việt Nam đã đưa ra góc nhìn của mình trong cuộc trao đổi với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập:

Ông Nguyễn Minh Cường – Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển châu Á – ADB tại Việt Nam

Cần tránh trở thành bến đỗ “tạm thời”

ADB nhận định kinh tế Việt Nam sẽ phát triển ra sao về trung và dài hạn sau đại dịch COVID-19 và sau khi các Hiệp định EVFTA và EVIPA chính thức có hiệu lực, thưa ông?

Ông Nguyễn Minh Cường: Nhiều năm trở lại đây, Việt Nam trở thành một nền kinh tế mở phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài. Trong khi đó, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới, những đối tác xuất nhập khẩu của Việt Nam đã và đang bị ảnh hưởng trầm trọng, rơi vào suy thoái. Chính vì vậy, kinh tế Việt Nam sẽ không tránh khỏi những tác động mang tính tiêu cực. ADB cũng đã dự báo năm 2020, kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng 4,1%. Nếu đạt được thì đây cũng là mức tăng trưởng rất cao so với khu vực và thế giới.

Về trung hạn và dài hạn, ngay từ trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát, ADB đã dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển rất mạnh từ 6.8%-7%/năm, đến nay mức dự báo này vẫn được ADB giữ nguyên cho kịch bản Việt Nam và thế giới kiểm soát tốt dịch COVID-19. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam về trung và dài hạn sẽ dựa trên một số động lực chính. Thứ nhất là cùng với đà tăng trưởng của nền kinh tế, tầng lớp trung lưu tại Việt Nam tăng lên mạnh mẽ, chính điều này giúp đẩy mạnh tiêu dùng nội địa, đây là một trong những điểm sáng của kinh tế Việt Nam và sẽ tiếp tục là động lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới. Thứ hai, là sự tham gia đóng góp tích cực của kinh tế tư nhân vào tăng trưởng GDP, ngoài đóng góp của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

Logistics vẫn chiếm tỷ trọng quá cao trong tổng chi phí doanh nghiệp

Động lực thứ ba có lẽ là quan trọng nhất, đó chính là sự dịch chuyển đầu tư FDI, dưới tác động của chuyển đổi cơ cấu kinh tế toàn cầu – đặc biệt là dòng chảy thương mại và đầu tư – từ trước khi xảy ra chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch, và các yếu tố địa chính trị trong khu vực và trên thế giới. Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch đã thúc đẩy nhanh hơn và sâu sắc hơn tiến trình chuyển dịch cơ cấu này. Với kết quả đầy tích cực về phòng dịch COVID-19, với thị trường gần 100 triệu dân có mức thu nhập trung bình trên thế giới, với vị trí địa lý thuận lợi để tiếp cận thị trường đầy tiềm năng của Châu Á, với cơ hội tiếp cận các thị trường khác trên thế giới qua các hiệp định thương mại song phương, Việt Nam trở thành điểm sáng đáng để nhiều doanh nghiệp lớn trên thế giới phải cân nhắc lựa chọn đầu tư.

Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với nhiều nước khác để thu hút vốn đầu tư. Vậy theo ông, đâu sẽ là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam?

Ông Nguyễn Minh Cường: Việt Nam có một số lợi thế để cạnh tranh với những quốc gia khác khi thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, như lao động nhân công chi phí thấp, môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, nhiều hiệp định song phương, đa phương được ký kết với Châu Âu, Mỹ và nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới, tạo tiền đề cực kỳ thuận lợi cho sản xuất xuất khẩu, sự cam kết và nỗ lực của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh... Tuy nhiên, theo tôi lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam so với những quốc gia khác chính là sự ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, và một thị trường nội địa gần 100 triệu dân năng động và nhiều tiềm năng, đặc biệt là tính hiệu quả của hệ thống chính trị đã được thể hiện rất rõ trước và trong đại dịch COVID-19 vừa qua.

Hạ tầng yếu kém là “yếu điểm” của Việt Nam

Việt Nam mong muốn tập trung thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Theo ông, Việt Nam cần phải làm gì để thu hút được nhà đầu tư vào những dự án như vậy?

Ông Nguyễn Minh Cường: Những nhà đầu tư “chất lượng cao” trước khi đầu tư đều có nghiên cứu kỹ càng, cẩn thận. Họ đầu tư mang tính chất lâu dài, do vậy sẽ cân nhắc nhiều yếu tố chiến lược trước khi quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư được đưa ra xem xét. Ngoài Việt Nam cũng còn nhiều quốc gia khác muốn thu hút đầu tư từ những doanh nghiệp này. Bởi vậy, để thu hút được những dự án đầu tư chất lượng cao, môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn cần phải được cải thiện rất nhiều, đây cũng chính là một trong những yếu tố được các nhà đầu tư lớn trên thế giới tập trung quan tâm. Ngoài ra, những yếu tố khác như cơ sở hạ tầng, năng suất lao động, trình độ nguồn nhân lực, tính minh bạch trong kinh doanh, chính sách pháp luật… cũng là những yếu tố góp phần đáng kể vào quyết định lựa chọn đầu tư của những nhà đầu tư “chất lượng cao”. Nếu như Việt Nam không có sự cải thiện đáng kể những yếu tố trên, vấn đề cạnh tranh và thu hút đầu tư từ những nhà đầu tư “chất lượng cao” chỉ là giấc mơ xa vời. Thay vào đó, chúng ta chỉ có thể thu hút được những nhà đầu tư nhỏ lẻ, những nhà đầu tư dịch chuyển “tạm thời”, mang tính chất “tránh bão” trong thời điểm chiến tranh thương mại và đại dịch COVID-19 bùng phát.

Thị trường 100 triệu dân đầy tiềm năng của Việt Nam rất hấp dẫn nhà đầu tư ngoại

Ngoài ra, Việt Nam cũng cần quan tâm hơn đến dòng đầu tư mua bán sáp nhập công ty (M&A), đặc biệt là ở châu Á. Do thanh khoản dồi dào vì đầu tư sản xuất bị hạn chế, giá các tài sản (assets) trong khu vực và trên thế giới hiện đang đi xuống. Đặc biệt, để chiếm lĩnh mạng lưới phân phối nội địa sẵn có của các công ty đang trên bờ vực phá sản cũng như tận dụng cơ hội tiếp cận thị trường dưới danh nghĩa sản xuất nội địa, nhiều nhà đầu tư lựa chọn việc hình thức M&A. Trong thời điểm chính tranh thương mại leo thang diễn biến phức tạp, các dòng đầu tư mua cổ phần doanh nghiệp tăng đột biến. Hiện tượng này vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức rất lớn của Việt Nam trong quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài.

ADB sẽ hỗ trợ Việt Nam thế nào trong việc thu hút nhà đầu tư “chất lượng cao”, thưa ông?

Ông Nguyễn Minh Cường: Như đã nói, một trong những yếu tố được ADB xác định là điểm còn hạn chế của Việt Nam là cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh gây tăng chi phí logistic, như hiện tại theo tính toán, logistic chiếm tới gần 20% tổng chi phí của doanh nghiệp. Chi phí như vậy là quá cao so với tại các nước khác, gây áp lực lên giá thành sản phẩm, khiến nhà đầu tư băn khoăn cân nhắc trước khi đầu tư. Các dự án của ADB tập trung chủ yếu vào phát triển cơ sở hạ tầng và biến đổi khí hậu, chiếm tới 70%-80% tổng vốn đầu tư. Nhiều dự án phát triển cơ sở hạ tầng được ADB triển khai tại Việt Nam như dự án Metro Hà Nội và TP. HCM, dự án cao tốc Nội Bài - Lào Cai… Trong số đó, dự án cao tốc Nội Bài - Lào Cai đã giúp chuyển đổi hẳn khu vực Tây Bắc Việt Nam, tạo đà tăng trưởng kinh tế khu vực. Lào Cai trước đây còn tụt hậu nhiều so với Lạng Sơn, Quảng Ninh nhưng từ khi có đường cao tốc, kinh tế Lào Cai đã có sự phát triển vượt trội, đầu tư nước ngoài vào Lào Cai tăng lên đáng kể. Ngoài ra, còn rất nhiều dự án đã và đang được ADB triển khai phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ thu hút nhà đầu tư, đặc biệt là những nhà đầu tư chất lượng cao vào Việt Nam.

Việt Nam cần cải thiện rất nhiều nếu muốn thúc đẩy doanh nghiệp SMEs phát triển

Trong thời gian tới, ADB sẽ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Việt Nam như thế nào trong việc tiếp cận nguồn tài chính – lĩnh vực được coi là khó khăn nhất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam?

Ông Nguyễn Minh Cường: Theo phân tích của ADB, trước khi đại dịch COVID-19 xảy ra, hệ thống ngân hàng, cơ chế tín dụng của Việt Nam so với một số nước khác trong ASEAN được coi là có phần tốt hơn, tỉ lệ tiếp cận vốn của doanh nghiệp Việt Nam khả quan hơn. Tuy nhiên trong và sau khủng hoảng, cơ chế tiếp cận vốn của tổ chức tín dụng tại Việt Nam dành cho doanh nghiệp lại có phần hạn chế, khó khăn hơn so với nhiều nước khác. Trong khủng hoảng gây ra bởi đại dịch COVID-19, Chính phủ nhiều nước đưa ra cơ chế bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên tại Việt Nam, cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp bị tác động của đại dịch chưa phát huy hết hiệu quả.

Chân thành cảm ơn ông về cuộc trao đổi ngày hôm nay!

Tại Việt Nam hiện nay, ngoài ngân hàng thương mại, doanh nghiệp SMEs còn có thể tiếp cận vốn từ nhiều nguồn khác như Quỹ tín dụng nhân dân, Bộ Kế hoạch và đầu tư cùng Hiệp hội cũng có một quỹ dành riêng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên vấn đề vướng mắc ở đây là cơ chế cho vay của những tổ chức này không khác gì so với cơ chế của ngân hàng, không có cơ chế bảo lãnh tín dụng của Chính phủ như nhiều nước khác. Vì vậy theo tôi, đây là điểm nghẽn gây cản trở khả năng tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.

Trong thời gian tới, ADB sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng, tổ chức nghiên cứu khảo sát thực tế về khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa bị tác động bới COVID-19, sau đó sẽ có đề xuất cụ thể để tạo cơ chế bảo lãnh tín dụng linh hoạt hơn cho doanh nghiệp SMEs khi tiếp cận vốn.

Ngọc Thái (t/h)

Tin bài khác
Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành tăng tốc tháo gỡ điểm nghẽn, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa nguồn vốn và mở thêm dư địa cho doanh nghiệp trong những tháng cuối năm 2026.
Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, xuất nhập khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh trong 8 tháng năm 2026. Tuy nhiên, áp lực lạm phát, giải ngân đầu tư công, xử lý dự án tồn đọng và những tác động từ bên ngoài vẫn đặt ra yêu cầu cao đối với công tác điều hành trong những tháng cuối năm.
Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch Việt Nam đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế và hình thành 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.023,8 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 80% dự toán năm và tăng 16% so với cùng kỳ. Ở chiều chi, đầu tư phát triển tiếp tục là điểm nhấn khi tăng 35,4%, góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, trong khi các nhiệm vụ an sinh, quốc phòng, an ninh và trả nợ được bảo đảm.
Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

8 tháng năm 2026, dòng vốn đầu tư tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực khi vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tăng 18,5%, trong khi vốn FDI thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm qua. Đáng chú ý, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam tăng tới 55,4%, cho thấy sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tiếp tục được củng cố.
Chuyển đổi số mở rộng không gian hợp tác quốc tế cho doanh nghiệp

Chuyển đổi số mở rộng không gian hợp tác quốc tế cho doanh nghiệp

Khi các khu kinh tế, khu công nghiệp, đặc khu và địa phương có nhu cầu hợp tác xuyên biên giới ngày càng lớn, dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi) đặt ra một cách tiếp cận mới, mở rộng không gian hợp tác nhưng phải đi cùng dữ liệu, trách nhiệm và kiểm soát rủi ro.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, IIP 8 tháng đạt mức cao nhất nhiều năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, IIP 8 tháng đạt mức cao nhất nhiều năm

Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong tháng 8/2026, đưa chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao nhất của 8 tháng trong nhiều năm qua, cho thấy hoạt động sản xuất đang có sự phục hồi và mở rộng trên diện rộng.
Việt Nam thúc đẩy 5 trụ cột hợp tác mới Nga - ASEAN

Việt Nam thúc đẩy 5 trụ cột hợp tác mới Nga - ASEAN

Từ phát triển chuỗi cung ứng, logistics đến công nghệ, năng lượng xanh và tài chính, Việt Nam đề xuất 5 định hướng trọng tâm nhằm đưa hợp tác kinh tế Nga - ASEAN từ tiềm năng sang những dự án, dòng thương mại và đầu tư cụ thể, có kết quả đo lường được.
Tây Ninh: Không chỉ cần vốn, mà cần những dự án tạo giá trị

Tây Ninh: Không chỉ cần vốn, mà cần những dự án tạo giá trị

Tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2026 đạt 10,12%, quy mô kinh tế năm 2025 đứng thứ 9/34 tỉnh, thành phố và vốn FDI lũy kế hơn 26 tỷ USD. Với nền tảng này, bài toán của Tây Ninh trong giai đoạn mới không còn đơn thuần là thu hút thêm vốn, mà là biến lợi thế sau hợp nhất thành những dự án có công nghệ, năng lực sản xuất, việc làm và giá trị gia tăng thực chất.
Lâm Đồng thúc đẩy liên kết phát triển du lịch 5 địa phương ven biển

Lâm Đồng thúc đẩy liên kết phát triển du lịch 5 địa phương ven biển

Ngày 29/8, UBND phường Mũi Né, Lâm Đồng phối hợp với các xã, phường liên quan tổ chức Hội nghị xúc tiến, quảng bá và liên kết phát triển du lịch Mũi Né - Phú Thủy - Phan Thiết - Tiến Thành - Hòa Thắng năm 2026, nhằm tăng cường kết nối điểm đến, đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng không gian phát triển du lịch.
Hải Phòng siết chặt quản lý bến bãi ven sông: Tổng rà soát bến bãi, chấm dứt hoạt động các trường hợp không đủ điều kiện

Hải Phòng siết chặt quản lý bến bãi ven sông: Tổng rà soát bến bãi, chấm dứt hoạt động các trường hợp không đủ điều kiện

Hải Phòng đang triển khai cuộc rà soát toàn diện đối với hoạt động bến, bãi ven sông, hướng tới mục tiêu đến năm 2028, 100% bến bãi đủ điều kiện pháp lý, hoạt động đúng quy hoạch và không để phát sinh bến bãi trái phép mới.
Hà Nội: Thu ngân sách vượt 520.000 tỷ đồng, tín dụng tăng hơn 13%

Hà Nội: Thu ngân sách vượt 520.000 tỷ đồng, tín dụng tăng hơn 13%

Sau 8 tháng năm 2026, Hà Nội ghi nhận tổng thu ngân sách Nhà nước ước đạt 521.300 tỷ đồng, bằng 80,2% dự toán và tăng 8,9% so với cùng kỳ. Cùng thời điểm, dư nợ tín dụng trên địa bàn tăng 13,05% so với cuối năm 2025, cho thấy dòng vốn tiếp tục được mở rộng để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
Thắp sáng kinh tế đêm, Hải Phòng khai mở “điểm hẹn không ngủ” giữa trái tim thành phố

Thắp sáng kinh tế đêm, Hải Phòng khai mở “điểm hẹn không ngủ” giữa trái tim thành phố

Tối 28/8, tại Quảng trường Nhà hát thành phố, Hải Phòng chính thức khai mạc Phố đi bộ ẩm thực đêm và chuỗi hoạt động phát triển kinh tế ban đêm. Không chỉ mở ra một không gian trải nghiệm mới cho người dân và du khách, sự kiện còn đánh dấu bước đi quan trọng trong hành trình xây dựng thương hiệu đô thị hiện đại, năng động và giàu bản sắc của thành phố Cảng.
Từ “hỗ trợ” sang kiến tạo môi trường phát triển cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Từ “hỗ trợ” sang kiến tạo môi trường phát triển cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đang xem xét dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhiều đề xuất chính sách mới, trong đó trọng tâm là tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, đất đai, công nghệ, thị trường và đổi mới phương thức hỗ trợ theo nhu cầu, kết quả phát triển thực tế của doanh nghiệp.
Tăng tốc các dự án điện trọng điểm, không để thiếu điện cho tăng trưởng

Tăng tốc các dự án điện trọng điểm, không để thiếu điện cho tăng trưởng

Việc đẩy nhanh tiến độ các dự án điện trọng điểm đang được Chính phủ đặt lên hàng đầu nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng và tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cao trong những năm tới.