Thứ sáu 14/08/2026 16:13
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Tiến sĩ Lưu Vĩnh Toàn: AI sẽ là “cạm bẫy” nếu doanh nghiệp nhỏ và vừa dùng sai hay ảo tưởng

12/10/2020 00:00
Trí tuệ nhân tạo (AI) là một công cụ hiệu quả với các công ty lớn trên thế giới như Google, Amazon, Facebook… Vậy các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam có thể tận dụng được thế mạnh của AI để hỗ trợ công việc sản xuất, kinh doanh của mình?

Chúng tôi đã trao đổi với TS. Lưu Vĩnh Toàn (công ty Move Digital AG, Thụy Sĩ) - một chuyên gia về data mining, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, AI, về cách tiếp cận AI của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh hiện nay.

TS. Lưu Vĩnh Toàn.

Anh có thể chia sẻ góc nhìn của anh về quá trình triển khai ứng dụng AI của doanh nghiệp nhỏ và vừa một cách bài bản?

Theo tôi, quá trình ứng dụng AI của một doanh nghiệp, dù ở quy mô lớn hay nhỏ cũng nên tuân theo quy luật phát triển của chính ngành AI gồm 3 giai đoạn trong lịch sử: rule based (dùng máy giải quyết các vấn đề của con người dựa theo các quy tắc định nghĩa trước), machine learning (dùng máy học ra các quy tắc dựa các phương pháp thống kê dữ liệu), deep learning (phương pháp học máy dựa trên lượng dữ liệu cực lớn).

Cho nên một doanh nghiệp cũng vậy, luôn phải bắt đầu bằng việc (1) số hóa dữ liệu,(2) phát hiện ra các quy tắc và quy trình có thể đồng bộ, xử lý tự động (3) có hệ thống analytics để phân tích, thống kê dữ liệu và đánh giá các ảnh hưởng của các giải pháp (4) dùng máy móc, thuật toán hay ứng dụng hệ thống mới tối ưu các quy trình đấy để giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh.

Khi những nguồn tài nguyên còn hạn chế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đừng lao ngay vào một giải pháp ứng dụng AI toàn diện mà nên ứng dụng AI ở từng công đoạn một, trước mắt hỗ trợ cho nhân viên để tăng hiệu quả công việc từng bước, ví dụ với bộ phận marketing, bán hàng có sự hỗ trợ của hệ thống gợi ý khách hàng tiềm năng, bộ phận chăm sóc khách hàng có hệ thống phân loại phản hồi của khách hàng và gợi ý câu trả lời… Cần cố gắng tận dụng các giải pháp AI có sẵn dưới dạng dịch vụ hay các hệ thống mã nguồn mở để tiết kiệm chi phí và kiểm tra tác dụng.

Lưu ý là rất nhiều các công ty công nghệ lớn đã sử dụng các giải pháp AI bên dưới các dịch vụ rồi nên trước mắt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tìm hiểu để sử dụng một số dịch vụ của họ cho tối ưu thay vì tự xây dựng.

Chẳng hạn trong việc marketing, nền tảng như Facebook, Google đã có một lượng dữ liệu và giải thuật rất mạnh để hỗ trợ các chiến dịch quảng cáo hiệu quả cho khách hàng bằng cách dựa vào lượng dữ liệu ban đầu khách hàng cung cấp, tìm ra tập người dùng có thông tin tương ứng trên mạng xã hội để nhắm việc hiển thị quảng cáo cho đúng đối tượng hơn.

Hay trong việc quản lý khách hàng, một hệ thống CRM (quản lý quan hệ khách hàng) như Salesforce có tích hợp tính năng AI phân tích sắc thái của khách hàng dựa trên dữ liệu xã hội, thông tin giao tiếp của khách hàng như email, hợp đồng để hiểu rõ hơn dự định của khách hàng từ đó điều chỉnh cách tiếp cận và phục vụ khách hàng tốt hơn. TensorFlow là một nền tảng mở cho việc nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp học máy có thể đáp ứng các ứng dụng trong nhận dạng ảnh, giọng nói, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, phân tích dữ liệu time series…

Khi lượng dữ liệu thu thập đủ lớn, doanh nghiệp đã rõ hơn về quy trình xử lý, phát hiện các vấn đề tiềm tàng, có lực lượng nhân viên có kinh nghiệm trong cả công nghệ lẫn nghiệp vụ doanh nghiệp, thì doanh nghiệp có thể triển khai các giải pháp AI phức tạp và có các tính năng xử lý độc lập với sự tương tác của con người.

Khi ứng dụng AI, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam cần thận trọng trước những vấn đề gì?

Các vấn đề cần thận trọng tôi đã đề cập trong bài “AI: một cách tiếp cận CMCN 4.0 trong doanh nghiệp” với một số cạm bẫy như: đánh giá sai về khả năng công nghệ, thiếu nhân lực triển khai các dự án AI, coi AI có thể mang lại những điều “thần kỳ cho doanh nghiệp” hay cố gắng theo đuổi giải pháp của các công ty công nghệ lớn.

Một vấn đề nữa mà tôi lo ngại là các hệ thống IT của chúng ta không đủ “mở” hay “trong suốt” để tích hợp các giải pháp AI. Chẳng hạn khi đề cập với một doanh nghiệp trong nước về ứng dụng phân tích email để đánh giá tự động phản hồi của khách hàng và gợi ý các câu trả lời cho khách hàng, doanh nghiệp đó nói luôn là không thể được vì nhân viên trong công ty chỉ dùng gmail cá nhân để giao tiếp với khách hàng, email công việc và email cá nhân nhiều khi lẫn lộn.

Đây là sự khác biệt với các doanh nghiệp nước ngoài khi thư cá nhân và công việc phải rạch ròi, có thể xử lý bằng một số hệ thống tự động nhưng nó được bảo vệ cẩn thận bởi các công nghệ bảo mật và hành lang pháp lý.

Thêm nữa, các hệ thống IT của nhiều doanh nghiệp có thể chưa được thiết kế theo dạng các “micro service” để tích hợp với các giải pháp AI. Ví dụ hệ thống AI chỉ cải tiến một quy trình của hệ thống bằng lấy dữ liệu từ thành phần A, xử lý rồi tương tác với thành phần B. Những A và B lại không tách rời nhau ra hay phần giao diện lập trình của A và B hoàn toàn đóng hoặc chỉ chạy trên nền tảng mà module AI không hỗ trợ thì cũng rất khó có thể thử nghiệm giải pháp AI trên đó.

Theo anh, AI có phải là “chìa khóa vạn năng” cho mọi vấn đề của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam khi tiếp cận cách mạng 4.0?

Chắc chắn AI không phải là “chìa khóa vạn năng” cho mọi vấn đề của doanh nghiệp khi tiếp cận cách mạng 4.0. Nó thậm chí còn là “cạm bẫy” đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu dùng sai nó hay ảo tưởng về nó. Ví dụ bị sa lầy vào một giải pháp quá phức tạp hay tốn kém mà giá trị mang lại của nó quá ít do đặc thù của doanh nghiệp.

Tôi đã chứng kiến một công ty rất hào hứng với demo của một ứng dụng chatbot và muốn theo đuổi ứng dụng nó. Tuy nhiên ý định này thất bại vì mặc dù có lượng người dùng giao tiếp với hệ thống nhiều nhưng những truy vấn của khách hàng không đủ lâu hay đủ dài để dùng đến công nghệ chatbot hay công ty chưa có dữ liệu đầy đủ để “đào tạo” cho các chatbot đấy.

Một số người ví von AI bây giờ như cái máy tính PC hay tin học ở thập kỷ 1980. Nhiều người nói về nó, biết nó có thể làm được những điều thú vị, kỳ vĩ nhưng không phải ai cũng biết cách dùng, và lợi ích nó mang lại quá ít so với số tiền bỏ ra mua nó lúc đấy. Thậm chí không hiệu quả bằng một máy tính bấm tay. Nhưng cuối cùng cũng đến giai đoạn PC rẻ đi, nhiều người biết dùng hơn và ứng dụng của nó trở nên thiết yếu như ta đang thấy hằng ngày.

AI không thể giải quyết được vấn đề của doanh nghiệp nếu vấn đề đó chưa được định nghĩa rõ, thu thập dữ liệu cẩn thận để xác định ra được giới hạn mà ứng dụng AI có thể “phá vỡ” được nó.AI nên được cân nhắc ở những ứng dụng mang lại thêm giá trị cho doanh nghiệp, ví dụ cắt giảm chi phí, tự động hóa một số quy trình (vì các yếu tố này đã rất rõ ràng với kinh nghiệm của doanh nghiệp) thay vì để nó tự tìm ra thị trường, sản phẩm, tính năng mới vì đây là các khía cạnh cần sự nhạy bén của con người, sẽ thiếu nguồn tri thức, dữ liệu và quy tắc chung để máy móc có thể xử lý.

Có ý kiến cho rằng, hiện nay các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam khó ứng dụng AI vì còn thiếu nhân lực được đào tạo về AI. Anh nghĩ gì về ý kiến này?

Trong thời kỳ công nghệ và thế giới đang thay đổi rất nhanh, nguồn nhân lực nào cũng có thể thiếu, thậm chí với cả các doanh nghiệp lớn và tại các nước phát triển. Thử tính xem chúng ta đã có bao nhiêu sinh viên tốt nghiệp ngành Công nghệ thông tin? Mỗi sinh viên Công nghệ thông tin của chúng ta đã được học về môn AI trong chương trình đại học hay chưa? Bao nhiêu đề tài tốt nghiệp, nghiên cứu, thực tập liên quan đến lĩnh vực AI? Từ thời tôi học đại học trong nước cách đây 20 năm, tỉ lệ đó đã không phải nhỏ. Như vậy chúng ta có sự nhìn nhận, có quá trình dài chuẩn bị cho nguồn nhân lực đó. Nên nếu có thiếu thì đấy là do chúng ta chưa biết tận dụng nguồn nhân lực tiềm năng ấy, hoặc nguồn nhân lực ấy còn thụ động trong cách suy nghĩ, trong cách tiếp cận và ứng dụng công nghệ.

Cách đào tạo trong trường đại học chúng ta cũng vẫn phải tiếp tục thay đổi, cải tiến, không chỉ ở chương trình mà ở phương thức dạy và học. Trong một ngành học có tiềm năng ứng dụng AI các bài tập thực hành, bài tập lớn sẽ đóng góp vào kết quả cuối cùng của sinh viên chứ không thể chỉ nghe giảng và làm bài thi là hoàn thành môn học. Nên tạo điều kiện cho sinh viên đại học tham gia vào các đề tài nghiên cứu cùng với các nghiên cứu sinh và thực tập thêm tại các doanh nghiệpđể có bài toán, dữ liệu cụ thể, có kỹ năng tổng hợp và đánh giá dữ liệu, phân tích kết quả của các giải thuật AI.

Tại công ty tôi làm việc có những kỹ sư trước đây họ chỉ làm về thiết kế giao diện hay học một ngành hoàn toàn khác (kinh tế, vật lý). Nhưng khi xã hội đề cập nhiều về các vấn đề AI, machine learning,họ sẵn sàng dành thời gian ngoài giờ đăng ký khoá học trên mạng, download các chương trình mã nguồn mở về để tìm hiểu và tự đào tạo kiến thức cho mình. Chỉ khoảng 3 tháng họ đã có để dùng thử công cụ để xử lý các dữ liệu của công ty. Có thể chưa được gọi là chuyên gia nhưng ít nhất họ có những hiểu biết nhất định để tham gia vào các dự án ứng dụng AI của công ty hay có các nhận xét, đóng góp thiết thực về các giải pháp.

Tóm lại nếu đã xác định là xu thế, nhu cầu thì cả 3 phía: doanh nghiệp, nhà trường, người kỹ sư đều phải có những chuyển đổi để đáp ứng vấn đề nhân lực. Cái này không chỉ trong lĩnh vực AI mà trong nhiều lĩnh vực công nghệ mà chúng ta còn cho là thiếu khác.

Vậy có cách làm thiết thực nào để các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam có thể tận dụng được lợi thế của AI?

Là người đang làm việc ở môi trường nước ngoài khá lâu, tôi e có thể những ý kiến của mình sẽ thiếu thiết thực với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Chỉ xin đóng góp mấy ý chung chung thế này:

Không nên có “tư tưởng đi tắt đón đầu”, chúng ta có thể tiếp cận nhanh, quyết liệt, linh hoạt vì chưa bị phụ thuộc vào lượng khách hàng lớn hay hệ thống lớn, nhưng không có nghĩa là chúng ta bỏ qua từng công đoạn số hóa, hiểu rõ các quy tắc, quy trình nghiệp vụ của doanh nghiệp rồi tiến tới tự động hóa, áp dụng các giải thuật, hệ thống thông minh hỗ trợ doanh nghiệp.

Lãnh đạo doanh nghiệp và nhân viên luôn tâm niệm máy móc để phục vụ và tối ưu hóa công việc của con người. AI cũng chỉ là một phần trong tiến trình phát triển ấy, không nên thổi phồng hay lơ là nó.Nếu mỗi người luôn trăn trở suy nghĩ tối ưu hoá các quy trình, bắt tay vào thử nghiệm công nghệ mới để tháo gỡ các vấn đề của doanh nghiệp, dù là từng bước nhỏ, thì sẽ nảy sinh ra các ý tưởng, giải pháp sử dụng AI.

Nên kết hợp, bắt tay với các nhóm nghiên cứu, doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước cung cấp các giải pháp AI để tiết kiệm chi phí, tạo môi trường và kinh nghiệm cho nguồn nhân lực và tiềm năng phát triển AI trong nước. Dĩ nhiên nhà nước nên hỗ trợ một phần cho việc kết hợp này. Sẽ rất đáng tiếc và bất lợi cho tương lai nếu nguồn dữ liệu, dịch vụ của các doanh nghiệp trong nước bị rơi dần vào các doanh nghiệp nước ngoài vì họ có giải pháp AI ban đầu tốt hơn.

Cảm ơn anh!

Thanh Nhàn (thực hiện)

TAGS:

Tin bài khác
Hoàn thiện khung pháp lý để công nghiệp văn hóa bứt phá

Hoàn thiện khung pháp lý để công nghiệp văn hóa bứt phá

Việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý đồng bộ, khơi thông nguồn lực sáng tạo, thúc đẩy thị trường và nâng cao giá trị kinh tế của các sản phẩm văn hóa Việt Nam.
Hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia: Dự kiến huy động hơn 808.000 tỷ đồng

Hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia: Dự kiến huy động hơn 808.000 tỷ đồng

Chính phủ đề xuất tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành một chương trình chung giai đoạn 2026-2030, với tổng nguồn lực dự kiến 808.558 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương khoảng 345.000 tỷ đồng.
TP. HCM sửa đổi thủ tục công bố dự án đầu tư kinh doanh

TP. HCM sửa đổi thủ tục công bố dự án đầu tư kinh doanh

Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh vừa ban hành quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Tài chính. Quyết định công bố 1 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực kể từ ngày ký.
Nhập siêu 20,3 tỷ USD đặt doanh nghiệp trước bài toán nội địa hóa

Nhập siêu 20,3 tỷ USD đặt doanh nghiệp trước bài toán nội địa hóa

Nhập khẩu tăng mạnh trong 7 tháng đầu năm đang tạo sức ép lên cán cân thương mại, nhưng phần lớn dòng hàng là máy móc, linh kiện và nguyên liệu phục vụ sản xuất. Bài toán đặt ra với doanh nghiệp là nâng tỷ lệ nội địa hóa để biến áp lực nhập khẩu thành năng lực sản xuất dài hạn.
Đến năm 2030, toàn bộ cao tốc Việt Nam sẽ vận hành trên nền tảng giao thông thông minh

Đến năm 2030, toàn bộ cao tốc Việt Nam sẽ vận hành trên nền tảng giao thông thông minh

Bộ Xây dựng đặt mục tiêu đến năm 2030 kết nối toàn bộ cao tốc đang khai thác vào ITS Core, tạo mạng lưới giao thông số thống nhất, điều hành bằng dữ liệu thời gian thực.
TP.HCM cấp thẻ đi xe buýt miễn phí, tiến tới đi xe buýt bằng căn cước hoặc  VNeID

TP.HCM cấp thẻ đi xe buýt miễn phí, tiến tới đi xe buýt bằng căn cước hoặc VNeID

TP.HCM đang đẩy mạnh số hóa hệ thống giao thông công cộng, đồng thời triển khai chính sách đi xe buýt miễn phí cho toàn bộ người dân đi lại trên 134 tuyến xe buýt nội tỉnh và miễn phí hoàn toàn cho các nhóm đối tượng theo quy định. Người dân có thể đăng ký thẻ miễn phí, sử dụng trên xe buýt và từng bước kết nối với metro, hướng tới việc đi lại thuận tiện hơn và giảm sử dụng phương tiện cá nhân.
VINASME và hành trình kiến tạo thể chế cho kinh tế tư nhân

VINASME và hành trình kiến tạo thể chế cho kinh tế tư nhân

Nếu ví kinh tế tư nhân là động cơ tăng trưởng mới của Việt Nam thì VINASME chính là một trong những tổ chức đang góp phần thiết kế và hoàn thiện "đường băng" để động cơ ấy cất cánh.
TP. Hồ Chí Minh dồn lực giải ngân đầu tư công, kích hoạt dòng vốn tư nhân

TP. Hồ Chí Minh dồn lực giải ngân đầu tư công, kích hoạt dòng vốn tư nhân

TP. Hồ Chí Minh đang đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, xác định đây không chỉ là nhiệm vụ về tiến độ ngân sách mà còn là giải pháp quan trọng để mở rộng không gian phát triển, tạo hạ tầng và mặt bằng, qua đó kích hoạt dòng vốn đầu tư tư nhân và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026.
Luật mới kỳ vọng mở thêm dư địa cho doanh nghiệp số và đổi mới công nghệ

Luật mới kỳ vọng mở thêm dư địa cho doanh nghiệp số và đổi mới công nghệ

Điểm doanh nghiệp cần chú ý trong dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 luật nằm ở việc giảm thủ tục, tăng phân quyền và tạo thêm hành lang cho kinh tế số, chuyển giao công nghệ và hạ tầng viễn thông.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Gỡ vướng cho doanh nghiệp không dừng ở “trả lời kiến nghị”

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Gỡ vướng cho doanh nghiệp không dừng ở “trả lời kiến nghị”

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành chuyển từ việc trả lời kiến nghị sang xử lý đến cùng, xác định rõ đầu mối, thời hạn và giải pháp để doanh nghiệp thực sự tháo gỡ được khó khăn.
ĐBQH đề xuất cơ chế khai thác từng phần, sớm đưa vật liệu vào công trường

ĐBQH đề xuất cơ chế khai thác từng phần, sớm đưa vật liệu vào công trường

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đề xuất công nhận kết quả thăm dò và cho phép khai thác từng phần đối với khu vực đã xác định đủ điều kiện, ĐBQH Thái Thị An Chung cho rằng giải pháp này có thể rút ngắn thời gian cung ứng vật liệu cho các dự án, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản.
Chính phủ đặt trọng tâm nâng chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng việc làm bền vững

Chính phủ đặt trọng tâm nâng chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng việc làm bền vững

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1538/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng việc làm và kỹ năng lao động, hướng tới đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới.
Cần ưu tiên đoạn tuyến Vành đai 5 - vùng Thủ đô để tạo hiệu quả sớm

Cần ưu tiên đoạn tuyến Vành đai 5 - vùng Thủ đô để tạo hiệu quả sớm

Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội dài khoảng 349 km nhưng giai đoạn 2026 - 2030 mới ưu tiên khoảng 116 km. Trong bối cảnh ngân sách trung ương dự kiến bố trí 59.700 tỷ đồng, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải tính kỹ thứ tự đầu tư để vốn bỏ ra sớm tạo hiệu quả.
8.002 dự án tồn đọng và bài toán đưa nguồn lực trở lại nền kinh tế

8.002 dự án tồn đọng và bài toán đưa nguồn lực trở lại nền kinh tế

Hơn 4.900 dự án tồn đọng đã hoàn thành tháo gỡ khó khăn, giúp giải phóng lượng lớn đất đai và nguồn vốn. Tuy nhiên, kết quả pháp lý mới là bước đầu, bởi không ít dự án vẫn chưa thực sự vận hành trở lại.
Việt Nam hướng tới thị trường du lịch y tế tỷ USD

Việt Nam hướng tới thị trường du lịch y tế tỷ USD

Từ lợi thế về chi phí, chất lượng dịch vụ và các chuyên khoa thế mạnh, Việt Nam đang xây dựng Đề án phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030, hướng tới đón khoảng 750.000 lượt khách quốc tế vào năm 2030 và tạo doanh thu trực tiếp từ khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe khoảng 1 tỷ USD.